Đặc điểm dùng thuốc bệnh lý liên quan đến Vị

Nguồn: 余浩. 医间道. 北京. 中国中医药出版社,2011. 

Bệnh nhân sẽ thường xuyên nói: “Thầy thuốc ơi! Dạ dầy tôi đau, dạ dầy căng trướng, trào ngược dạ dầy, dạ dầy tôi không biết đói….”

Vị chính là một cơ quan tiêu hóa, Trung Y gọi Vị là “biển của thủy cốc”, ý rằng Vị là cơ quan thu nạp, nấu nhừ thủy cốc; vì đã là cơ quan thu nạp, ninh nhừ đồ ăn, nếu như không thể thu nạp, hoặc sau khi thu nạp lại không thể ninh nhừ, thì đó là bệnh, hoặc là ninh nhừ quá nhanh, đó cũng là bệnh.

Chúng ta hãy xem lại kim chỉ nam, Vị khí là đi xuống, Trung Y gọi là “Vị lấy giáng làm hòa”. Cũng có nghĩa rằng, Vị khí đi xuống là điều hòa, là thuận. Nếu như không giáng, vị khí nghịch lên trên, dịch vị sẽ theo đó trào ngược lên, ăn cơm không thấy ngon, thì sẽ sinh bệnh.

Cho nên chữa bệnh của vị rất đơn giản, mà từ khóa là một chữ “giáng”, chúng ta vừa cùng phân tích, vừa cùng học nào!

1. Dụng dược trong trường hợp vị khí thượng nghịch

Tình trạng Vị khí thượng nghịch tồn tại ở hầu hết các trường hợp bệnh nhân có bệnh ở Vị. Dịch vị có tính acid, dịch Đởm có tính kiềm, Vị khí sau khi đi xuống, ở đường ruột acid và kiềm sẽ trung hòa lẫn nhau. Nếu như Vị khí thượng nghịch, dịch vị sẽ ăn mòn thực quản, dẫn đến viêm thực quản, tiếp tục trào ngược lên trên tổn thương họng hầu, dẫn đến viêm họng, rất nhiều trường hợp viêm họng mạn tính được chữa khỏi thông qua giáng vị khí. Mà Tây y khi điều trị loại bệnh này thường thường sử dụng phương pháp ức chế bài tiết dịch vị, tuy rằng dịch vị giảm đi, triệu chứng kích thích do trào ngược gây ra có thể nhẹ bớt, nhưng không thể giải quyết vấn đề căn bản là vị khí thượng nghịch. Ngược lại, ức chế sự bài tiết dịch vị của tế bào viền trong thời gian quá dài, tế bào viền sẽ dần dần giảm đi, tuyến sẽ bị co nhỏ, hình thành teo niêm mạc dạ dày, ngược lại sẽ làm bệnh tình nặng thêm, thậm chí có trường hợp xuất hiện niêm mạc ruột hình thành sẹo, trở thành nguy cơ ung thư!

Cho nên giáng vị khí cực kỳ quan trọng, thuốc thường dùng có những loại nào?

Trúc Nhự, Tì Bà Diệp, Đại Giả Thạch, Sinh Khương, Chỉ Thực, Trầm Hương, Toàn Phú hoa[1], Bán Hạ… Phàm là thứ có thể giáng khí, về cơ bản đều có thể sử dụng.

Lấy một ví dụ, có một bệnh nhân nữ vì trào ngược ợ chua, buồn nôn, họng khó chịu đã 3 năm nay đến khám. Bệnh nhân bình thường không hút thuốc, nhưng viêm họng rất nặng. Sau khi xem mạch phát hiện thấy mạch Thốn bên phải có xu hướng vượt lên trên, cũng là mạch tượng của Vị khí thượng nghịch. Bệnh nhân ngửi thấy mùi của thuốc trung dược thì buồn nôn, rất sợ uống trung dược. Sau khi cân nhắc suy nghĩ, tôi kê cho cô ấy một kg Tì Bà diệp, yêu cầu cô đun lấy nước uống thay trà trong thời gian dài. Sau nửa tháng khi tới khám lại, bệnh nhân nói đã đỡ nhiều lắm rồi, viêm họng cũng đỡ rồi, thực quản cũng dễ chịu hơn nhiều rồi, sáng ngủ dậy cũng không thấy buồn nôn nữa, chỉ có đánh hơi nhiều. Thực ra chính là làm cho thứ vị khí thượng nghịch của bệnh nhân giáng xuống, dịch vị sẽ không còn trào ngược lên trên nữa. Khí theo đó mà đi xuống, đánh hơi sẽ nhiều lên, đó chính là trị bản. Cũng không khó hiểu khi Trương Tích Thuần cho rằng Đại Giả Thạch là vị thuốc thần diệu đều kiện Vị, bởi vì vị thuốc này có tác dụng giáng vị khí rất tốt. Hiểu được giáng Vị khí, kỹ xảo điều trị bệnh của Vị có thể nói đã nắm được một nửa, còn một nửa là gì? Đó là Vị hàn, Vị nhiệt, thực tích, khí trệ… Chúng ta sẽ cùng nhau phân tích từng thứ.

2. Dụng dược với Vị hàn

Vị muốn ninh nhừ đồ ăn cần phải có nhiệt lượng, nếu như không có nhiệt lượng thì sẽ không có cách nào ninh nhừ đồ ăn. Rất nhiều bệnh nhân sáng ăn tối nôn, tức là đồ ăn buổi sáng, đến tối nôn ra vẫn chưa được tiêu hóa, từ sáng tới tối không biết đến đói khát, nguyên nhân là gì?

Trong Vị không có lửa!

Làm thế nào để thêm lửa?

Xem lại kim chỉ nam, phía trước khi phân tích về ngũ hành có nói đến hỏa có thể sinh thổ, tức là Tâm hỏa sinh Vị thổ, cũng có thể nói là, bổ sung Tâm hỏa, Tâm hỏa đủ rồi thì mới có thể khiến cho Vị hỏa vượng lên. Đó cũng chính là “hư thì bổ mẹ” mà ngũ hành thường nhắc đến.

Thuốc thường dùng có: Quế Chi, Nhục Quế, Phụ Tử, Giới Bạch, Can Khương…

Sử dụng một số thuốc ôn Tâm dương, Vị hỏa sẽ có, chức năng ninh nhừ thủy cốc của Vị sẽ được hồi phục trở lại.

3. Dụng dược cho Vị nhiệt

Có trường hợp Vị hỏa không đủ làm xuất hiện Vị hàn, tự nhiên sẽ có Vị hỏa quá mạnh làm xuất hiện Vị nhiệt. Bệnh nhân Vị nhiệt thường xuyên có cảm giác đói, luôn có cảm giác ăn không no, gọi một cách thông tục là “phàm ăn”, Trung y gọi là “ăn uống hay đói [消谷善饥]”. Điều trị rất đơn giản, uống một ít thuốc thanh Vị hỏa là được rồi, ví dụ: Thạch Cao, Tri Mẫu, Hoàng Liên, Hoàng Cầm, Lô Căn[2]

Lấy một ví dụ, tôi đã từng chữa cho một bệnh nhân thường xuyên “phàm ăn”. Ông ấy yêu cầu không uống thuốc Trung dược, lại muốn có thể chữa khỏi, tôi nói như thế rất dễ, ăn một chút thực phẩm hạ hỏa là có thể được rồi! Vậy thực phẩm nào tốt đây? Yêu cầu bệnh nhân ăn trứng vịt muối trộn với đậu phụ (皮蛋拌豆腐)[3], mỗi ngày dùng 2 quả trứng muối thêm 4 lạng đậu phụ, trộn với nhau thêm dầu vừng, cho thêm ít muối[4], dùng làm thức ăn. Làm như vậy liên tục một tuần thì sẽ khá lên tương đối!

Có người sẽ hỏi, đây cũng là điều trị bằng Trung Y ư? Đúng vậy, bởi vì, vận dụng lí luận Trung Y để hướng dẫn cách ăn uống, hướng dẫn cách dưỡng sinh, đó chính là tinh túy của Trung Y. Sau khi học tốt Trung Y có thể kết nối nó với việc ăn mặc của mình để thực hành, bất kỳ lúc nào bất kỳ ở đâu cũng có thể trải nghiệm được điều kỳ diệu của lí luận trung y!

4. Dụng dược của Vị âm bất túc

Vị hỏa quá mạnh trong thời gian dài, tất yếu sẽ làm tổn thương đến phần âm. Cũng giống như đốt lò dưới đáy nồi vậy, đốt thời gian dài, nước trong nồi sẽ bị đun đến khô; cùng một nguyên tắc đó, Vị hỏa mạnh trong thời gian dài sẽ dẫn đến Vị âm bị hư tổn. Cho nên đối với bệnh nhân Vị hỏa mạnh lâu ngày, thì cần phải dưỡng Vị âm. Thuốc có thể dưỡng Vị âm có Thạch Hộc, Mạch Đông, Hoa Phấn, Ngọc Trúc, Lô Căn, Ô Mai, Sa Sâm, Sinh Địa…

5. Dụng dược trong trường hợp hàn nhiệt thác tạp

Trên lâm sàng, tình trạng bệnh của Vị không phải lúc nào cũng đơn thuần như ở trên đã nói, đơn thuần Vị hàn và đơn thuần Vị nhiệt không nhiều. Đại bộ phận bệnh nhân đều là trạng thái hàn nhiệt thác tạp, chỉ là hàn nhiệt chiếm tỉ lệ khác nhau mà thôi. Ví dụ trong Vị có nhiệt, trường đạo có hàn, như thế dễ gây ra phần nửa trên của Vị có nhiệt, phần nửa dưới có hàn, hình thành chứng hàn nhiệt thác tạp, khi dùng thuốc thì cần phải phối hợp thuốc hàn nhiệt, hiệu quả mới tốt được.

Như Hoàng Cầm, Hoàng Liên phối với Can Khương, hoặc là Kim Quả Lãm[5] phối với Can Khương, Bán Hạ tả Tâm thang là phương thuốc kinh điển để điều trị bệnh của Vị hàn nhiệt thác tạp.

6. Dùng thuốc trong trường hợp thực tích

Bệnh của Vị còn có một số trạng thái khác, ví dụ thực tích, ảnh hưởng tương tự như trên đến sự hòa giáng của Vị, bệnh tình nhẹ có thể sử dụng Sơn Tra, Thần Khúc, Mạch Nha, Kê Nội Kim, La Bặc tử để giúp tiêu hóa; bệnh tình khá nặng có thể sử dụng Đại Hoàng, Mang Tiêu, Chỉ Thực, Hậu Phác, Binh Lang, Nhị Sửu[6]… để công hạ, hồi phục chức năng hòa giáng của Vị.

Lấy một ví dụ, rất nhiều trẻ nhỏ sau khi ngừng ăn, sốt lại nhiều lần, sau khi dùng thuốc hạ sốt thì lúc đó có thể đỡ. Đến ngày thứ hai, lại sốt lại như thường, đối với riêng những trường hợp này, dùng Nhị Sửu sao thơm tán bột, sau khi trộn với đường đỏ thì cho trẻ ăn, mỗi lần khoảng 3g, với trẻ dưới 3 tuổi có thể giảm lượng sao cho phù hợp, với trẻ 3 tuổi trở lên có thể tùy theo trẻ mà gia lượng, thông thường sau khi dùng thuốc khoảng 3h thì xuất hiện đi ngoài. Đồ ăn bị đình trệ ở Vị Tràng của bệnh nhi sau khi bị bài tiết ra thì bệnh sẽ có thể khỏi rồi!

Bệnh của Vị còn có một vài trường hợp khác, vì dụ khí trệ huyết ứ, đàm thấp trở trệ, nhưng những trường hợp đã nhắc đến ở trên là thường gặp. Có thể hiểu được đặc điểm dùng thuốc cho những trường hợp ở trên, là đã biết được phần lớn tư duy dùng thuốc cho bệnh ở Vị, thì đã có thể học một biết mười rồi.

Gợi ý hành trình: Học về mục này, điều quan trọng nhất là phải hiểu được một câu: “Vị lấy giáng làm hòa”, hiểu được câu này rồi, thì sẽ nắm được cốt lõi vấn đề trong điều trị bệnh của Vị, bạn đã hiểu rõ chưa?

[1]旋覆花:tên khác Kim Phật hoa, Kim Phật thảo, thuộc họ hoa cúc, tên latin: Inula japonica Thunb. Tính vị quy kinh: Vị mặn, tính ấm, hơi có độc. Vào hai kinh phế và đại trường. Tác dụng:  Hạ khí, tiêu đàm, hành thủy, tiêu tích báng. Công năng: Trị ho, hen, nôn ọe, ngực trướng, đau hông, trị thủy thũng.

[2]Rễ sậy

[3]皮蛋拌豆腐: Trong trường hợp này tạm dịch là trứng muối nhưng trên thực tế, 皮蛋 là một trong những loại trứng ướp thời gian dài với một công thức đặc biệt. Đây là một trong những món ăn truyền thống đặc trưng của người Hán. Trứng vịt, ngan để nguyên vỏ sau khi được trộn với một hỗn hợp có công thức đặc biệt, sau đó được ủ một quãng thời gian nhất định, thường là 40-60 ngày, lòng trắng trứng biến thành trong suốt, có thể có mầu vàng hoặc đen tùy theo cách ướp. Theo quan điểm của Trung Y, loại trứng này có vị cay, chát, ngọt, mặn; tính hàn; quy kinh Vị; có tác dụng nhuận hầu, trừ nhiệt, tỉnh rượu….

[4]Thường thì đậu phụ được cắt lát, trứng cắt nhỏ đặt lên trên, sau đó cho hỗn hợp dầu vừng, muối… lên trên

[5]金果榄: tên Latin Tinospora capillipes Gagnep. Tên tiếng Việt: củ gió. Link viện dược liệu:  http://vienduoclieu.org.vn/tin-chi-tiet/-/chi-tiet/tinospora-capillipes-1726-46.html;jsessionid=85BDC9026987B20A46A6D2CD90C11374

Theo Trung Y, Kim Quả Lãm vị đắng, tính hàn, quy kinh Phế, Đại Tràng.

[6]二丑: tên khác của Khiên Ngưu tử, tên Latin: Pharbitis nil (Linn.) Choisy. Tên tiếng Việt: hạt bìm bìm lam, tham khảo: http://www.lrc-hueuni.edu.vn/dongy/show_target.plx?url=/thuocdongy/B/BimBimLam.htm&key=&char=B

 Dịch: Trần Anh

Đặc điểm dùng thuốc bệnh lý liên quan đến tạng Can

Nguồn: 余浩. 医间道. 北京. 中国中医药出版社,2011:33 – 34. 

Để nghiên cứu về dùng thuốc cho các bệnh liên quan đến tạng Can, chúng ta phải xem lại chức năng tạng Can trước.

Can thuộc mộc, chủ sơ tiết, chủ tàng huyết, Can tàng hồn, là tạng chủ về cân nhắc mưu lược, khai khiếu ở mắt, Can chủ cân, nhuận ra ở móng, về tình chí là giận dữ, về âm thanh là tiếng hét tiếng động lớn, về dịch là nước mắt. Đó là những điều cơ bản và cũng không có gì để tranh luận cả, từ những thứ này để bắt đầu chắc chắn không sai, chắc chắn không có tình trạng mỗi người một ý, ai cũng cho mình là đúng. Continue reading

Tầm quan trọng của dược tính

Nguồn: 余浩. 医间道. 北京. 中国中医药出版社,2011

Dược tính có hàn nhiệt ôn lương, có thăng giáng phù trầm, không hiểu rõ về dược tính của dược vật, lúc kê phương chỉ dựa vào tác dụng của một vị thuốc mà cho vào, thì sẽ khó mà đạt được hiệu quả. Trong phần trước của chương này có nhắc đến dùng Tỏi, chính là dựa vào tính năng có thể dẫn khí huyết đi xuống. Khí huyết đi xuống rồi, bệnh sẽ đỡ. Dược học hiện đại khi nghiên cứu về dược vật, ưa thích từ các thành phần của dược vật mà tiến hành nghiên cứu, trong tỏi có chứa dịch chiết tỏi, có thể kháng khuẩn tiêu viêm, có thể làm mềm mạch máu, thậm chí có thể chống ung thư, nhưng không có cách nào nghiên cứu làm sao Tỏi có thể dẫn khí huyết đi xuống, vậy tại sao? Đây là đặc tính riêng vốn có của bản thân dược vật! Continue reading

TỪ TRỒNG TRỌT ĐỂ XEM LẠI CÁCH CHỮA BỆNH CAN

Nguồn: 曾培杰,陈创涛. 任之堂医经心悟记. 北京,中国中医药出版社,2014:63-65.

Hoàng Đế Nội kinh viết: “Mộc uất đạt chi[木郁达之][1]”.

Tứ thánh tâm nguyên viết: “Mộc sinh vu thủy, thủy noãn mộc vinh, sinh phát nhi bất uất tắc[木生于水,水暖木荣,生发而不郁塞][2]

Mộc sinh ở thủy mà thành nhờ thổ, thích điều đạt mà ghét uất ức. Điều trị bệnh của Can Mộc, cần phải học cách trồng cây làm ruộng. Nông dân trồng cây làm ruộng đòi hỏi phải làm tơi đất bón phân tưới nước, cho đến nhổ cỏ dại. Thầy thuốc điều can, kiện vận Tỳ Vị cũng chính là làm tơi đất, tư dưỡng Can Thận chính là tưới nước bón phân, sơ Can lợi Đởm chính là hỗ trợ hoa màu sinh trưởng, trừ diệt cỏ dại. Continue reading

TỪ ÁNH NẮNG VÀ MÂY ĐEN NGỘ THÔNG VỀ PHÉP GIÁNG

Nguồn: 曾培杰,陈创涛. 任之堂医经心悟记. 北京,中国中医药出版社,2014:153 – 155.

Trong sách Y thuật có viết: “Người dựa vào Vị khí để sống, thuốc dựa vào Vị khí để vận chuyển”.

Cổ nhân nói: “Vị lấy giáng làm hòa”.

Túc Dương Minh Vị là kinh đa khí đa huyết, Vị Tràng dựa vào thông giáng làm bổ. Trên là dương, dưới là âm, Dương Minh Vị kinh một khi thông giáng, âm dương trên dưới tự nhiên mà đối lưu. Continue reading

KINH MẠCH VÀ TẠNG PHỦ

Nguồn: 曾培杰,陈创涛. 任之堂医经心悟记. 北京,中国中医药出版社,2014:126 – 127.

Hoàng Đế Nội Kinh có viết: “Kinh mạch giả, sở dĩ có thể quyết sinh tử, xử lý trăm bệnh, điều hòa hư thực, không thể không thông[经脉者,所以能决死生,处百病,调虚实,不可不通]”.

Lại viết: “Mạch Túc thiếu dương đởm, đi qua ngực, qua sườn.[胆足少阳之脉…循胸,过季肋]”

Có một ông lão, 76 tuổi, ngực sườn bên phải đau âm ỉ tái phát nhiều lần đã nhiều năm nay, vài ngày gần đây nặng thêm.

Thầy tôi nói, đó là nơi kinh Đởm đi qua, mạch Quan bên trái huyền khẩn, có phải có sỏi túi mật hoặc viêm túi mật không?

Ông lão gật đầu, nói đúng vậy.

Thầy tôi nói, giờ là mùa thu, khí hướng xuống dưới mà thu về, bệnh nhân vốn thể trạng đàm trọc, các đường ống dễ bị tắc nghẹn, không thông thì đau. Bệnh nhân này kinh mạch trên cơ thể giống như đường cao tốc vậy, duy trì trạng thái vô cùng thông suốt, chỉ cần có chút tắc lại, người sẽ khó chịu. Continue reading

Ôn bệnh tâm đắc (Triệu Thiệu Cầm)

Nguồn: 赵绍琴著.赵绍琴温病讲座.学苑出版社.北京,2015, 2-4.

ÔN BỆNH TÂM ĐẮC: BÀI GIẢNG 1

Đoạn thứ nhất: “Ôn nhiệt bệnh là do ôn tà từ miệng mũi mà vào, khí ở mũi thông với phế, qua miệng hầu mà tới, tà không phải từ bì mao mà nhiễm vào. Cho nên ôn bệnh mới phát tất có họng đỏ mà sưng, miệng khô lưỡi đỏ, ho khan, thậm chí có đờm, hoặc tức ngực mà suyễn, bắt đầu ở thượng tiêu, tuy có hàn nhiệt, nhưng không phải biểu chứng, mà nói rằng ở vệ. [温热病乃温邪自口鼻而入,鼻气通于肺,经口咽而至,非邪从皮毛所感受。故温病初起必咽红而肿,口干舌红,咳嗽,甚则有痰,或胸痛而喘,始在上焦,虽有寒热,却非表证,故曰在卫]” Continue reading

Kinh nghiệm điều trị THA của Triệu Thiệu Cầm

Nguồn: 李刘坤编著.赵绍琴医案实录.人民军医出版社.北京,2015:39 – 41.

1. Bệnh án 1

Bệnh nhân nữ họ Trương, 56 tuổi.

Khám lần 1: 11 – 3 – 1981. Có THA đã nhiều năm, mỗi ngày đều uống thuốc Tây để hạ áp, huyết áp cao thấp không ổn định, thường xuyên đầu nặng như trì, thậm chí đau căng, ngực bụng trướng tức, đại tiện nát không dễ chịu, mạch nhu hoạt mà sác, chất lưỡi đỏ mà bệu to, rêu lưỡi trắng nhớt mà dầy.

Trị pháp: dùng mùi hương để hóa thấp tà, khổ hàn để táo trung tiêu, tán khí để giảm đầy tức.

Phương: Bội Lan[1] (cho sau) 10g, Hoắc Hương (cho sau) 10g, Bạc Hà (cho sau) 3g, Thảo Đậu Khấu 3g, Bán Hạ 10g, Trần Bì 6g, Mộc Hương 6g, Đại Phúc Bì 10g, phiến Khương Hoàng 6g. Tất cả 6 thang, mỗi ngày 1 thang, sắc lấy nước, mỗi ngày chia 2 lần sáng tối, uống lúc đói. Continue reading

Writing for Publication in Nursing and Healthcare

Trích từ sách: Writing for publication in nursing and healthcare : getting it right.   Edited by Karen Holland, Roger Watson. A John Wiley & Sons, Ltd., Publication, 2012.  

Link sách: http://www.fshare.vn/file/Q59M12UTAQLF

CHƯƠNG 2:

NHỮNG ĐIỀU CƠ BẢN ĐỂ VIẾT BÀI TẠP CHÍ VÀ CÁC BƯỚC TỚI THÀNH CÔNG: HÃY BẮT ĐẦU

GIỚI THIỆU

Chương này bao gồm các đặc điểm cần thiết của việc viết một bài báo để công bố nghiên cứu, liệt kê ra một số những rào chắn mà nhiều người gặp phải khi viết và cách làm thế nào để vượt qua chúng. Bởi vì chương này tập trung vào viết một bài báo cơ bản, nên một vài nguyên tắc phù hợp với các dạng viết khác ví dụ như chương sách và tổng hợp, sẽ được bao gồm trong những chương tiếp theo.

CÁC CHƯỚNG NGẠI KHI VIẾT

Tôi dậy một phần của khóa học online về thông tin và sự liên lạc trong chăm sóc sức khỏe, có một vài phần về viết một bài báo để xuất bản. Một trong những bài tập đầu tiên tôi đặt ra cho sinh viên – hầu hết là những nhà lâm sàng bận rộn mà muốn viết bài báo – đó là liệt kê ra những chướng ngại khi phải viết bài và sau đó chia sẻ với nhóm online, và với tôi. Bản danh sách cứ dài thêm ra khi tôi yêu cầu làm bài tập này vì mọi người không ngừng tìm được các lý do để không phải viết, mặc dù họ mong muốn làm nó. Tuy nhiên, trong các bản danh sách và ở những cụm từ phổ biến luôn ở trong top đầu gồm có:

– Thiếu thời gian (lack of time)

– Thiếu khả năng (lack of ability)

– Không hiểu về quy trình xuất bản ( not understanding the publishing process)

– Sợ bị phê bình (fear of criticism)

– Sợ bị từ chối (fear of rejection) Continue reading

Trung y học dân gian điều trị viêm tuyến vú cấp

 

Nguồn: 中医书友会 – Tác giả:郭永来 (Quách Vĩnh Lai), Biên cảo:王超 (Vương Siêu)

  1. Phạm vi ứng dụng

Viêm tuyến vú cấp chưa thành hóa mủ

  1. Dụng cụ

Kim tam lăng, bông sạch, dịch sát trùng… Continue reading

KHUYẾN CÁO CỦA NHS VỀ CHÂM CỨU TRONG ĐAU LƯNG DƯỚI

Ngày 24-3-2016, NICE (National Institute for Health and Care Excellence )[1] của Anh đưa ra bản dự thảo hướng dẫn kiểm soát đối với Đau lưng dưới (Low back pain) và Đau thần kinh tọa. Đây là bản cập nhật của khuyến cáo năm 2009 về kiểm soát sớm đau lưng dưới, và dự kiến chính thức lưu hành vào tháng 9 năm 2016. Một trong những điểm khác biệt đáng chú ý trong bản cập nhật lần này là Châm cứu không được khuyến khích dùng để kiểm soát bệnh nhân đau lưng dưới có hoặc không kèm theo đau thần kinh tọa, bởi các bằng chứng cho thấy châm cứu không tốt hơn liệu pháp giả (sham treatment, placebo). Khuyến cáo của NHS có vẻ sẽ gây tranh cãi, và không nhận được sự đón nhận của phần đông những người làm Châm cứu, vì châm cứu vốn được biết đến như một phương pháp điều trị có hiệu quả nhất định đối với một số triệu chứng hoặc bệnh, bao gồm cả các vấn đề liên quan đến đau.
Ngày nay, việc xây dựng các guideline điều trị, cũng như việc quyết định phương hướng điều trị đều dựa trên các bằng chứng y học (Evidence Based Medicine, EBM). Điều này thể hiện rất rõ trong toàn bộ guideline của NHS. Trong mục Châm cứu, sau quá trình thu thập, nhóm tác giả tiến hành phân tích 30 nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên (Randomized Control Trial, RCT) và phân tích hệ thống (Systematic Reivew, SR)[2], đánh giá tác dụng của Châm Cứu.

Continue reading

TỪ “KHÍ CỦA ĐẤT BỐC HƠI THÀNH MÂY” ĐỂ HIỂU ÂM THEO DƯƠNG ĐỂ THĂNG

Nguồn: 曾培杰,陈创涛编著. 任之堂跟诊日记4. 北京:人民军医出版社,2014: 5- 9.

1. Khí trên mặt đất là mây

Thầy tôi kể cả khi đi tham dự các hội nghị Y học, lúc nào cũng mang theo bên mình quyển “Trung y kinh điển yếu văn tiện độc[1], ngồi trên tầu bất kỳ lúc nào giở ra đọc, xem vài đoạn rồi cuộn lại trầm tư, giống như lúc Khổng Tử nghiên cứu “Dịch Kinh”, mang theo cuốn “Dịch Kinh”, “cư tắc tại tịch, hành tắc tại nang”[2], thật đúng là đi đứng nằm ngồi đều không rời khỏi y học!

2016-03-27 094146.jpg

Thầy tôi nói, kinh văn trong “Hoàng đế nội kinh” là hợp với đạo của trời, thứ “đạo” này không phải dựa vào thuộc lòng, mà dựa vào sự thấu hiểu. Thuộc lòng là bước đầu tiên của học y, giống như là thu hoạch thóc lúa tiểu mạch về nhà, còn thấu hiểu thì giống như đem thóc gạo nấu thành cơm hoặc mì có thể giúp cho con người ăn được vậy. Y học là môn học để mà dùng, tập thói quen thuộc lòng lại càng dễ cho thấu hiểu. Continue reading

Thế nào là thuốc tốt?

Nguồn: 余浩. 医间道. 北京. 中国中医药出版社,2011:30-31. 

Thuốc không phân đắt rẻ, thuốc đúng với chứng chính là thuốc tốt nhất.

Khi chúng ta thực sự tìm hiểu sâu về thuốc, thực sự đi vào thế giới của “dược” sẽ phát hiện ra, xung quanh chúng ta có rất nhiều thứ với tay ra là có thể biến thành dược liệu. Chỉ là chúng ta dùng đúng, là có thể biến thứ vô dụng thành hữu dụng.

Continue reading

Thông giáng Vị Tràng, giúp cho Dương có thể nhập Âm mà trị mất ngủ

 

Nguồn: 曾培杰,陈创涛. 任之堂医经心悟记:医学话头参究. 北京. 中国中医药出版社,2014,16 – 18.[1]

Hoàng Đế Nội kinh” có viết: “Vị không hòa, khiến cho nằm bất an[胃不和,则卧不安]”

Lại viết: “Bệnh mà không thể nằm ngủ được, cái gì dẫn đến điều này? Kỳ Bá đáp: Vệ khí không thể nhập âm, thường lưu ở phần dương. Lưu ở dương thì dương khí đầy. Dương khí đầy thì Dương Kiều thịnh, không thể nhập âm thì âm khí suy, cho nên mắt không nhắm được. [病而不得卧者,何气使然?岐伯曰:卫气不得入于阴,常留于阳。留于阳则阳气满。阳气满则阳跷盛,不得入于阴则阴气虚,故目不冥矣]”. Continue reading

Kinh nghiệm điều trị tiêu chẩy mạn của Chu Lương Xuân

Nguồn: 朱良春. 中国百年百名中医临床家丛书,国医大师卷,朱良春. 北京.中国中医药出版社, 2011, 84 – 87.

Tiêu chảy mạn tính là một bệnh thường gặp trên lâm sàng, thời gian bị bệnh thường kéo dài triền miên, bị đi bị lại. Tôi điều trị tiêu chảy mạn, luôn luôn tuân thủ tôn chỉ trong “Nội kinh”: “Hữu giả cầu chi, vô giả cầu chi有者求之,无者求之”, “trị bệnh phải tìm đến gốc治病必求于本”, “hữu” và “vô” có nghĩa là chỉ “có” và “không có” tà khí. Không có tà khí thì phải cầu đến Tỳ Thận, có tà khí thì bắt buộc phải chú ý đến tà khí. Hơn nữa “gốc” trong “trị bệnh phải tìm đến gốc” không phải chỉ âm tinh, dương khí, mà là tìm đến nguyên nhân khởi bệnh, cũng tức là Trương Giới Tân thường gọi là “gốc bệnh 病本”. Continue reading

Bàn về chứng của Thái Dương (tiếp)

Tiếp theo của  Phần 1, Phần 2

5. 太阳病,发热而渴,不恶寒者,为温病 (6)

Tiếp theo giảng về hai loại chứng, một là ôn bệnh (温病), một là phong ôn(风温). “Thương hàn luận” là luận về nghĩa hẹp của thương hàn, chủ yếu giảng về Thương hàn ngoại cảm. Ở đây đề ra phong ôn ôn bệnh, đem làm một loại của Thái Dương bệnh, có ý nghĩa chẩn đoán phân biệt rất quan trọng. Continue reading

Một khảo sát về mức độ hài lòng đối với Châm cứu

Tự nhiên tìm tài liệu lại lỏi ra 1 cái nghiên cứu từ năm 2012, nội dung là so sánh mức độ vừa lòng của bệnh nhân với châm cứu ở Quảng Châu và Hà Nội. Ai có nhu cầu có thể tham khảo nguyên gốc: 中国越南患者对针灸满意度对比调查分析. Dù không xác định được số liệu là thật hay giả nhưng nó cũng phản ánh tương đối về sự khác nhau giữa hai nước. Continue reading

Anatomy trains

“Anatomy Trains” là một cuốn sách về Giải phẫu chức năng của tác giả Tom Myers. Tuy đã có rất nhiều sách và tác giả viết về giải phẫu chức năng, phân tích mối quan hệ giữa hệ cơ – xương – khớp và vận động, cung cấp kiến thức cơ sở cho các kỹ thuật Massage, phục hồi chức năng và y học thể thao, nhưng “Anatomy trains” tương đối khác biệt. Continue reading

Bàn về chứng của Thái Dương (tiếp)

Nguồn: 刘渡舟著录.刘渡舟伤寒论讲稿[M]. 北京.人民卫生出版社,2008: 25 – 28.

(辨太阳病脉证并治法上)

Xem lại Phần 1

2. 太阳病,发热,汗出,恶风,脉缓者,名为中风 (2)

Trong tổng cương về Thái Dương lại phân tiếp thành hai chứng, một là chứng Thái Dương trúng phong, một là chứng Thái Dương thương hàn. Tổng cương là nói về đặc tính chung, trúng phong và thương hàn là nói về đặc tính riêng. Chữ “trung中” trong trúng phong đọc là “trúng”. Tiếp theo những gì đã nhắc đến ở phần 1,  tuy rằng vẫn là “bệnh Thái Dương”, mạch hoãn là mạch phù mà hoãn. Trúng phong chính là phong tà làm tổn thương phần biểu của Thái Dương. Chữ “trúng中” tương đương như chữ “thương伤”, đồng nghĩa với chữ “thương” trong thương hàn. Tuy vậy nhưng trúng phong nhẹ hơn thương hàn một chút. Phong là dương tà, khi làm tổn thương cơ thể thì bộ phận bị bệnh tương đối nông, ở phần Vệ chứ chưa đến phần Dinh. Bởi vì phong tà thuộc dương làm tổn thương khí Vệ dương của Thái Dương, cũng là dương tà mà thương dương khí, dương lạ gặp dương, cho nên triệu chứng phát nhiệt tương đối nổi trội.

Trong sinh lý, Vệ và Dinh có tác dụng hỗ trợ hòa hợp với nhau, chi viện cho nhau. Vệ đi ở ngoài mạch, Dinh đi ở trong mạch, Vệ thuộc về dương mà Dinh thuộc về âm, Vệ ở phía ngoài để củng cố, Dinh ở bên trong để giữ gìn, hai thứ này chi viện lẫn nhau. Phong tà xâm phạm mà cư ở phía ngoài Vệ dương, tà khí ở Vệ mạnh lên, cho nên gọi là “Vệ cường”. Từ góc độ chính khí để xem xét, khi tà khí ở Vệ mạnh lên, chức năng của cơ thể sẽ bị ảnh hưởng, sẽ không thể bảo vệ và giữ gìn Dinh âm. Từ góc độ tà khí để xem xét, đặc điểm của phong tà là thích di chuyển mà hay biến hóa, có tác dụng phát tiết, ép cho Dinh âm không thể giữ lại ở bên trong, cho nên ra mồ hôi. Hai triệu chứng phát nhiệt và ra mồ hôi thường gắn liền với nhau. Khí của phong tà thuộc dương làm tổn thương khí của Vệ dương, dương lại gặp dương, cho nên triệu chứng phát nhiệt sẽ nhanh hơn một chút, không giống như thương hàn là do hàn tà bế uất dương khí của Vệ khí, bế uất đến một mức độ nhất định mới phát nhiệt. Bởi vì phát nhiệt, tà khí của Phong, khai tiết của dương tà, lại cộng thêm Vệ khí không giữ được cho nên mồ hôi mới ra. Dựa theo quan sát lâm sàng, ra mồ hôi trong trúng phong thường không nhiều, so sánh với mồ hôi ra đầm đìa, ra nhiều như trong nhiệt chứng của Dương Minh, mồ hôi của chứng này chỉ đạt đến mức độ râm rấp ở bề mặt da. Làm một bác sỹ lâm sàng, nếu gặp phải một bệnh nhân cảm mạo phát sốt, nhất định phải chẩn mạch, dùng tay sờ trên da bệnh nhân xem khô ráo hay ẩm ướt. Nếu như da dẻ nóng bỏng mà lại khô ráo, đó là phát nhiệt không có mồ hôi; nếu như phát nhiệt mà da lại ẩm ướt có mồ hôi, đó là phát nhiệt, ra mồ hôi. Phát nhiệt, ra mồ hôi đều là đặc điểm của trúng phong. Continue reading

Bàn về chứng của Thái Dương (Thương Hàn Luận)

太阳之为病,脉浮,头颈强痛而恶寒

Điều này là đề cương chung của bệnh lý Thái Dương, cũng là tổng quát bệnh lý ở biểu. “Bệnh của Thái Dương (Thái Dương chi vị bệnh)”, ngay từ cách đặt vấn đề đã phản ánh phương pháp phân biệt lục kinh của Trương Trọng Cảnh là căn cứ trên tạng phủ kinh lạc, chứ không đơn giản chỉ là bệnh danh. Có Thái Dương rồi mới có “bệnh của Thái Dương”. Cho nên, đầu tiên nên giúp mọi người làm rõ một chút thế nào gọi là Thái Dương, thế nào gọi là “bệnh của Thái Dương”, cái gì gọi là mạch chứng của Thái Dương, đặc điểm của mạch chứng phản ánh cái gì?
Continue reading

CÁC CƠ SỞ DỮ LIỆU Y HỌC THƯỜNG DÙNG

Hiện nay, có rất nhiều các công ty xuất bản và tổ chức cung cấp các kho dữ liệu số và liên tục cập nhật các nghiên cứu mới công bố, thuận lợi cho quá trình nghiên cứu và tiếp cận các vấn đề y học mới. Trong phạm vi bài này chỉ giới thiệu sơ lược một số cơ sở dữ liệu tiêu biểu và uy tín trong tìm kiếm tài liệu y học.

Continue reading

Extending the CONSORT Statement to Randomized Trials of Nonpharmacologic Treatment: Explanation and Elaboration

Adequate reporting of randomized, controlled trials (RCTs) is necessary to allow accurate critical appraisal of the validity and applicability of the results. The CONSORT (Consolidated Standards of Reporting Trials) Statement, a 22-item checklist and flow diagram, is intended to address this problem by improving the reporting of RCTs. However, some specific issues that apply to trials of nonpharmacologic treatments (for example, surgery, technical interventions, devices, rehabilitation, psychotherapy, and behavioral intervention) are not specifically addressed in the CONSORT Statement. Furthermore, considerable evidence suggests that the reporting of nonpharmacologic trials still needs improvement. Therefore, the
CONSORT group developed an extension of the CONSORT Statement for trials assessing nonpharmacologic treatments. A consensus meeting of 33 experts was organized in Paris, France, in February 2006, to develop an extension of the CONSORT Statement for trials of nonpharmacologic treatments. The participants extended 11 items from the CONSORT Statement, added 1 item, and developed a modified flow diagram.

To allow adequate understanding and implementation of the CONSORT extension, the CONSORT group developed this elaboration and explanation document from a review of the literature to provide examples of adequate reporting. This extension, in conjunction with the main CONSORT Statement and other CONSORT extensions, should help to improve the reporting of RCTs performed in this field.
Ann Intern Med. 2008;148:295-309. http://www.annals.org
Continue reading