Đặc điểm dùng thuốc bệnh liên quan đến Thận

Xưa có câu nói “Can vô hư chứng, Thận vô thực chứng”, nghĩa là nhắc đến tạng Thận chứng hư là nhiều, không có thực chứng; tạng Can phần nhiều là chứng thực, không có hư chứng. Câu nói này tuy không phải hoàn toàn chính xác, nhưng chỉ ra một thực tế chính xác : “tạng Thận đa phần là hư chứng”!

Để thông qua tạng Thận để học về Trung Dược, chúng ta phải tìm hiểu về tạng Thận trước. Thận là gốc của tiên thiên, chủ cốt, tàng tủy, tàng tinh; Thận chủ thủy, là tạng thủy; trong Thận tàng Thận hỏa, có thể ôn hóa hàn tủy, như thế thủy không trở nên lạnh…

Thông qua bệnh tạng Thận để học về trung dược, có thể từ 3 phương diện sau để bắt đầu, đó là Thận âm, Thận dương, Thận tinh. Như thế lại càng rõ ràng hơn!

1. Dùng thuốc cho Thận âm hư

Người Thận âm hư, thường biểu hiện ra lưng mỏi, chân yếu mềm, miệng khô, họng khô, lòng bàn tay chân nóng, khi điều trị cần dựa vào bổ dưỡng Thận âm là chính.

Có thể chọn Thục Địa, Quy Bản, Nữ Trinh Tử, Hạn Liên Thảo, Sơn Thù Nhục, Huyền Sâm, Thiên Đông, Câu Kỷ, Hoàng Tinh, Tử Hà Sa, Hoài Ngưu Tất, Chế Thủ Ô… Trên lâm sàng thường sử dụng Lục Vị Địa Hoàng hoàn dể điều trị Thận âm hư, đây là phương thuốc đại diện khá kinh điển.

2. Dùng thuốc cho Thận dương hư

Dương hư thì hàn, bệnh nhân Thận dương hư biểu hiện đều là hiện tượng của Hàn, nhất là từ lưng dưới trở xuống hiện tượng hàn càng rõ, sợ lạnh, chân tay lạnh (bệnh nhân nặng thì mùa hè cũng lạnh); lưng gối lạnh mỏi, tinh thần uể oải không phấn chấn.

Đối với Thận dương bất túc, có thể chọn dùng Lộc Nhung, Phụ Tử, Nhục Quế, Tiên Mao[1], Tiên Linh Tỳ, Bổ Cốt Chi, Ba Kích Thiên, Nhục Thung Dung, Xà Sàng Tử[2], Lưu Hoàng…

3. Dùng thuốc cho Thận tinh hư suy

Cái gì là Thận tinh? Vốn đã có Thận âm, Thận dương, vậy tại sao còn lập một tên danh từ khác là Thận tinh. Trong cơ thể người, Thận tinh được sản sinh như thế nào? Có những tác dụng gì? Sau khi bị hư suy thì có biểu hiện là gì?

Trong cuộc sống chúng ta thường xuyên gặp phải những thứ có liên quan đến “tinh”, ví dụ: cồn (tửu tinh), mì chính (vị tinh), bột nêm (kê tinh), muối ăn tinh chế… Ở những trường hợp này, “tinh” mang ý nghĩa là tinh hoa đã được chiết xuất! Cơ thể con người có Thận âm, có Thận dương, có Thận tinh. Thận âm giống như “thủy”, Thận dương giống như “hỏa”, thế còn Thận tinh thì sao?

Thực ra Thận tinh chính là thủy bị hỏa luyện mà thành, nói kỹ hơn một chút thì chính là “Thận thủy” sau khi bị “Thận hỏa” luyện mà hóa sinh thành “Thận tinh”; Thận tàng tinh, thứ được tàng chính là Thận tinh; Thận chủ cốt, Thận tinh có thể nuôi dưỡng đầy đủ cốt tủy, có thể bổ sung tủy hải (não là tủy hải [biển của tủy]), cũng có thể hóa thành tinh của sinh sản. Cho nên, người mà Thận tinh hư suy sẽ cảm thấy tứ chi mềm yếu không có lực, hoặc là rất dễ cảm thấy mệt mỏi, khả năng ghi nhớ tương đối kém, tóc bạc sớm; nam giới tinh huyết không đủ, tinh ít không sinh con, nữ giới kinh ít hoặc bế kinh, chức năng sinh dục suy giảm; với trẻ em thì phát dục muộn, thóp đóng muộn, cơ thể yếu nhỏ; Thận tinh bất túc, tủy ít cốt hư, cho nên trí tuệ kém phát triển, xương cốt mềm yếu, động tác chậm chạp.

Để làm rõ hơn nữa ý nghĩa của Thận tinh, chúng ta cùng xem lại thực vật ở xung quanh chúng ta, chỉ có trải qua mùa hè – hỏa nhiệt của “hỏa”, khi tới mùa thu hạt của thực vật mới có thể kết hạt rồi chín, hạt là tinh của thực vật, cũng là thủy hỏa luyện mà thành. Thông qua thiên nhân tương ứng, cổ nhân tổng kết ra phương pháp dựa vào tinh để bổ tinh, chính là sử dụng thuốc uống là các loại hạt để bổ dưỡng Thận tinh, ví dụ: Thỏ Ty Tử, Phúc Bồn Tử[3], Hạt Hẹ[4], Câu Kỷ Tử, Bổ Cốt Chi, Ngũ Vị tử…

Đối với các bệnh nhân mà Thận tinh hư suy tương đối nghiêm trọng, ngoài uống các thuốc thuộc loại hạt, có thể sử dụng các thuốc thuộc loại động vật, ví dụ: Lộc Giác Giao, Ngư Phiêu Giao[5], Tử Hà Xa, A Giao, Đông Trùng Hạ Thảo, Tắc Kè…

Có một số người vốn không có Thận âm hư, cũng không có Thận dương hư, mà Thận tinh bất túc không phải do nguồn cung không đủ, mà do chức năng bế tàng không tốt, trôi đi quá nhiều, lúc này khi điều trị cần phải nâng cao khả năng bế tàng của Thận, có thể chọn dùng các thuốc cố nhiếp Thận tinh như Kim Anh Tử[6], Tang Phiêu Tiêu, Khiếm Thực, Liên Tu[7], Kê Nội Kim, Ích Trí Nhân….

Nếu như Thận thủy bất túc, Thận hỏa quá vượng, sẽ xuất hiện trạng thái âm hư hỏa vượng, hóa sinh Thận tinh của cơ thể cũng sẽ không đủ, khi điều trị ngoài bổ dưỡng Thận thủy, còn có thể sử dụng Tri Mẫu, Hoàng Bá, Địa Cốt Bì để tả Thận hỏa.

Nếu như Thận thủy quá vượng, Thận hỏa bât túc, tương tự như thế hóa sinh Thận tinh cũng sẽ không đủ, khi điều trị, ngoài bổ dưỡng Thận hỏa, còn có thể thông qua Trạch Tả, Đậu Đen để lợi Thận thủy.

Chỉ khi âm dương của tạng Thận quân bình, thì quá trình luyện hóa Thận tinh mới có thể thuận lợi, nguồn của Thận tinh mới trở thành chẩy mãi không ngừng.

Âm dương của Thận quân bình, cũng tức là cung cấp sự bảo đảm đối với thủy hỏa quân bình ở hạ tiêu cơ thể, cũng lại là cung cấp nguồn vật chất để luyện tinh hóa khí. Vì thế điều hòa sự quân bình của Thận âm, Thận dươngđối với sự khỏe mạnh của cơ thể là điều cực kỳ quan trọng.

Để làm cho điều này ấn tượng hơn nữa, chúng ta lấy một vài ví dụ.

Ví dụ thứ nhất: xương gẫy lâu lành

Vài năm trước tôi gặp một bệnh nhân xương cánh tay phải gẫy, ở bệnh viện đã tiến hành nẹp cố định, 2 tháng sau tới khám lại phát hiện ra chỗ xương gẫy vẫn chưa hình thành Can xương. Bệnh nhân tới khám trước, khi xem mạch thấy mạch Xích hai bên trầm tế nhược tuyệt, qua quá trình nghe, hỏi bệnh được biết bệnh nhân thường xuyên thấy lưng mỏi yếu vô lực, khả năng sinh dục suy giảm rõ rệt, cho nên sử dụng phương pháp bồi bổ Thận tinh, phối hợp sử dụng các thuốc hoạt huyết hóa ứ, liền xương trị vết thương, dùng thuốc nửa tháng, 1 tháng sau tới khám lại, Can xương đã hình thành, sau đó chỗ xương gẫy liền rất tốt.

Ví dụ thứ hai: chân chuột rút

Trên lâm sàng có rất nhiều bệnh nhân già, thường xuyên bị chuột rút ở chân, mỗi tối đi tiểu nhiều lần, sau khi dùng thuốc bổ sung Calci thì chuột rút có đỡ dần, nhưng khi dừng thuốc thì rất nhanh sau đó lại tái phát, xem mạch sẽ thấy Xích bên phải trầm tế mà yếu, đối với những bệnh nhân như này, đồng thời với bổ sung calci, dùng thêm thuốc bổ dưỡng Thận tinh, tăng cường khả năng bế tàng của THận, giảm thiểu sự mất đi của calci, bệnh tình có thể cải thiện rất nhanh. Sử dụng Dâm Dương Hoắc 30g, Thỏ Ty Tử 20g, Ích Trí Nhân 15g, tiểu Thân Cân Thảo 30g, sắc nước uống, một vài ngày đã thấy hiệu quả!

Ví dụ 3: đau bụng kinh

Đau của đau bụng kinh, chỉ có phụ nữ khắc cốt ghi tâm nhất, có những cô gái trẻ, khi đau bụng kinh có thể đau tới mức ngất đi. Đau có thể do 2 nguyên nhân, thứ nhất: không vinh nên đau, loại này đau âm ỉ, bệnh tình nhẹ; loại thứ hai: không thông tắc thống, loại đau này bệnh tình nặng. Không thông thì ứ, mà ứ thì hình thành nên khí trệ, có hàn ngưng. Ở đây chủ yếu muốn nói đến “hàn ngưng”, loại này số bệnh nhân chiếm 8 phần số bệnh nhân đau bụng kinh, rất nhiều người dùng Trung y chữa đau bụng kinh, sử dụng Đào Hồng Tứ vật thang gia Kim Linh Tử tán, lúc đó có hiệu quả, đến lần hành kinh tháng sau lại đau. Thực ra chỉ cần sử dụng Phụ Tử, Nhục Quế, Ngải Diệp, Tiểu Hồi Hương, Tử Thạch Anh… để ôn bổ Thận dương, làm ấm tử cung tán hàn, đồng thời phối hợp với các thuốc hoạt huyết hóa ứ, khiến cho hàn tà ở bào cung, huyết ứ được trừ đi, thì rất nhanh có thể chữa trị tận gốc.

Phía trên bàn về luyện tinh hóa khí, luyện tinh chính là tinh luyện chiết xuất ra Thận tinh; hóa khí chính là Thận âm dưới tác dụng của Thận dương sinh ra một luồng dương khí, thứ dương khí này tuy rằng hơi yếu, nhưng là gốc rễ của ngũ tạng khí hóa của cơ thể. Giống như nước trên bề mặt trái đất được chưng thành hơi nước, hơi nước này bay lên tụ thành mây, từng luồng từng luồng hơi nước bay lên này, chính là bằng chứng cho âm dương của trời đất giao hòa. Quá trình khí hóa của cơ thể cùng với Thận hóa khí, Tỳ thăng khí, Phế liễm khí có mối quan hệ mật thiết.

Gợi ý hành trình: đọc hết phần này, có phải bạn đã có hiểu biết nhất định đối với Thận tinh, có phải đã hiểu rõ “tại sao rất nhiều thuốc loại hạt lại có thể có tác dụng bổ dưỡng Thận tinh”? Trên lâm sàng gặp phải bệnh nhân khí huyết không hư, nhưng lưng mỏi chân mềm, đặc biệt dễ dàng mệt mỏi, tóc bạc sớm, liệu có nên nghĩ tới cần phải thông qua bổ dưỡng Thận tinh để điều trị?

Chú thích: 

[1]Hay còn gọi là Sâm Cau

[2]蛇床子(Xà Sàng Tử): cây thuốc có tên khoa học Clinopodium megalanthum. Theo Trung Y Xà sàng vị cay đắng, tính ôn, qui kinh Thận. tham khảo thêm:

http://www.baophuyen.com.vn/portals/0/quangcao/TRACUUDONGDUOC/TUDIEN/THUOC/XASANGTU.HTM

http://baike.baidu.com/link?url=tRMDZlVPJQqWNRP200DEbJJC-8dbwM4RFH6cs8iWgINzvZS3EfMZj0LkxiFJCzvyxOUYhsZYMPS6rmkMyx1ONAS8f9kw5Tfrk6gjnBq2Z83

 

 

[3]覆盆子: Phúc bồn tử

[4]韭菜子: hạt hẹ

[5]鱼鳔胶: bong bóng cá. Theo Trung Y vị ngọt, tính bình, nhập kinh thận, có tác dụng nhuận dưỡng cân mạch, dưỡng Can ích thận, dưỡng huyết chỉ huyết.

[6]金樱子: Kim Anh tử

[7]莲须: Liên Tu

Dịch và chú thích: Trần Anh

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s