Tầm quan trọng của dược tính

Nguồn: 余浩. 医间道. 北京. 中国中医药出版社,2011

Dược tính có hàn nhiệt ôn lương, có thăng giáng phù trầm, không hiểu rõ về dược tính của dược vật, lúc kê phương chỉ dựa vào tác dụng của một vị thuốc mà cho vào, thì sẽ khó mà đạt được hiệu quả. Trong phần trước của chương này có nhắc đến dùng Tỏi, chính là dựa vào tính năng có thể dẫn khí huyết đi xuống. Khí huyết đi xuống rồi, bệnh sẽ đỡ. Dược học hiện đại khi nghiên cứu về dược vật, ưa thích từ các thành phần của dược vật mà tiến hành nghiên cứu, trong tỏi có chứa dịch chiết tỏi, có thể kháng khuẩn tiêu viêm, có thể làm mềm mạch máu, thậm chí có thể chống ung thư, nhưng không có cách nào nghiên cứu làm sao Tỏi có thể dẫn khí huyết đi xuống, vậy tại sao? Đây là đặc tính riêng vốn có của bản thân dược vật!

Có một vị trung dược là “bùn đáy giếng”, cũng có thể gọi là “cát đáy giếng”, chính là bùn đất mầu xám đen đọng ở dưới đáy giếng, vị ngọt mà đại hàn, vốn có tác dụng thanh nhiệt giải độc, chữa các trường hợp nhiệt bệnh động thai, thai động không yên; sốt cao ủ nhiệt, vết thương bị loét, mụn nhọt lở loét.

Trẻ con mụn nhọt lở loét, dùng bùn đáy giếng đắp xung quanh (Thiên Kim Phương), bùn nóng thì lại thay bùn mới, vài lần là khỏi.

Chúng ta đem “bùn đáy giếng” phơi khô sau đó lại dùng, thì còn tác dụng không? Không còn nữa! Bởi vì tính hàn của nó đã tiêu tán mất rồi! Chúng ta dùng nó để chữa bệnh, chính là dùng tính hàn này của nó.

Các loại bùn đáy giếng khác nhau, có thể thành phần mỗi loại không giống nhau, nhưng tính đại hàn của nó thì như nhau. Cũng chính vì vốn có tính đại hàn, cho nên đối với những bệnh nhiệt tính có tác dụng tốt. Nếu như căn cứ theo phương pháp nghiên cứu dược tính hiện đại, phân tích tách ra thành phần có tác dụng, nghiên cứu xem trong đó có thành phần kháng khuẩn nào, tôi nghĩ rằng rất khó có kết quả.

Nói nhiều như vậy, cũng chỉ là muốn nói rõ một vấn đề, “Dược tính” luôn luôn quan trọng hơn “thành phần của dược vật”, đó cũng là lý do vì sao cổ nhân cực kỳ coi trọng bào chế Trung Dược, bởi vì bào chế có thể thay đổi dược tính của Dược vật.

Thông thường, sao rượu tính thăng, sao nước gừng thì tán, sao dấm thì thu liễm, sao muối thì đi xuống. Như Hoàng Bá vốn là thuốc thanh nhiệt hạ tiêu thấp nhiệt, sau khi thông qua chế rượu thì tác dụng lại hướng lên trên, kèm theo tác dụng thanh nhiệt thượng tiêu. Hoàng Cầm sao rượu có thể làm mạnh thêm tác dụng đi lên trên thanh nhiệt ở đầu mặt. Sa Nhân là thuốc hành khí khai vị, hóa thấp tỉnh tỳ, tác dụng chủ yếu ở trung tiêu, sau khi chích muối, có thể đi xuống ôn thận, trị tiểu tiện nhiều. La Bặc Tử có thể thăng có thể giáng, thuốc sống chủ yếu là thăng, dùng cho phong đàm nôn nhiều; sau khi sao thì chủ yếu là giáng, chủ yếu là giáng khí hóa đàm, tiêu thực giảm chướng. Từ đó có thể thấy, tính năng thăng giáng phù trầm của dược vật không phải là cố định không bao giờ đổi, có thể thông qua bào chế để thay đổi xu hướng tác dụng của nó.

Hiểu ra được tầm quan trọng của dược tính, chúng ta lại quay lại học Trung Dược, tư duy sẽ nhờ đó mở mang ra nhiều, xem bệnh kê thuốc, cũng sẽ linh hoạt hơn rất nhiều! Trong khi chữa bệnh, chỉ cần dựa theo lí luận trung y, biện chứng dụng dược, cần thăng thì dùng dược vật vốn có khả năng thăng phát, cần giáng thì dùng dược vật có tính chất giáng khí, trầm giáng; nhiệt thì dùng hàn, hàn thì dùng nhiệt; không nên bị giới hạn bởi tư tưởng của tư duy nghiên cứu hiện đại, không giới bởi sự giới hạn của thành phần, chỉ có như vậy mới có thể thực sự bước vào cánh cổng lớn của dụng dược Trung Y, đó mới gọi là “bí quyết dụng dược Trung Y”.

Để tạo ấn tượng mạnh hơn nữa, chúng ta lại lấy một ví dụ:

Bệnh nhân Can khí uất kết, thường cảm giác thấy khi dùng sức có chút mệt mỏi, người bệnh nặng có thể thấy hồi hộp, thậm chí triệu chứng tức ngực, tại sao vậy? Bởi vì, trong cơ thể dương khí cần phải nhờ Can khí thăng phát, Can khí uất kết, không thể thăng phát, cho nên khí đoản, sẽ có tức ngực!

Thông thường sử dụng thuốc như Sài Hồ… để thăng phát sự uất kết của Can khí, triệu chứng ngay lập tức có thể giảm.

Có một lần đúng lúc Sài Hồ vừa hết, bệnh nhân vừa đến là một bệnh nhân cũ, tôi bảo bà ấy về dùng Sinh Mạch Nha hãm như trà để uống. Bệnh nhân nghi ngờ, Sinh Mạch Nha chẳng phải có tác dụng tiêu thực, làm cho sữa về ư? Lại dùng để chữa tức ngực? Tôi dùng rất nhiều công sức mới có thể giảng cho bà ấy hiểu về lý do của việc dùng này, cuối cùng gói cho bà ấy 1 lạng Sinh Mạch Nha. Ngày thứ hai khi gặp lại bà ấy nói, Sinh Mạch Nha tác dụng tốt, ngực không tức nữa. Tìm hiểu nguyên nhân thì do Sinh Mạch Nha vốn có tác dụng thăng phát. Vậy thì bệnh nhân vì Can khí uất kết, Can khí không sơ thông dẫn đến bệnh tật, còn có thuốc khác có thể dùng không? Thực ra chỉ cần thuốc có thể sơ thông Can khí, thăng phát Can khí thì đều có thể, ví dụ như Bạc Hà!

Đây là sự vận dụng dược tính, nắm vững dược tính, trên lâm sàng khi chọn thuốc lập phương sẽ thấy nhẹ nhàng như không.

Hiện nay trong các giáo trình “Trung Dược học”, Trung dược dựa trên công năng để phân loại, ví dụ Ma Hoàng quy về thuốc tân ôn giải biểu, Bạc Hà quy về thuốc tân lương giải biểu, Mạch Nha quy về thuốc tiêu thực…

Như vậy đúng hay không đây? Cũng đúng! Xét ra đối với những người mới học Trung Dược thì rất dễ để hiểu được tác dụng chung của các loại thuốc, cũng có nghĩa là nếu dựa trên mô hình học tập trên, thì các bạn rất nhanh có thể biết được “thuốc gì trị bệnh gì”.

Nhưng điều đó và  “bệnh gì dùng thuốc gì” không phải là cùng một khái niệm. Tuy rằng chỉ là thay đổi vị trí trước sau, nhưng thực ra vấn đề lại là hai phương diện khác nhau.

Trị bệnh giống như đánh trận, bước thứ nhất, đầu tiên bạn phải hiểu rõ đặc điểm của mỗi binh sĩ, đặc điểm của mỗi loại binh khí, nhưng rõ ràng biết những thứ này không nhất định là biết đánh trận. Bạn chỉ có thể trên chiến trường luyện tập thành thục việc sử dụng binh sĩ, sử dụng các binh khí có sẵn, đối với các chiến dịch trước mắt chọn cách tổ chức chiến thuật, chiến lược thích hợp nhất, thì mới có thể giành được thắng lợi.

Bạn hiểu được “thuốc gì trị bệnh gì” chỉ có thể chứng minh bạn đọc sách cẩn thận, những gì ghi trong sách bạn có thể ghi nhớ, nhưng như vậy không đủ, bạn còn cần phải càng hiểu rõ hơn, làm thế nào để tập trung vào đúng bệnh để dùng thuốc.

Trong các giáo trình viết rất rõ “thuốc gì trị bệnh gì”, tôi cũng không bàn lại nhiều. Ở đây, tôi bàn luận làm thế nào để nhìn từ góc độ bệnh tật, nhìn từ góc độ tạng phủ để học về Trung Dược. Trong quá trình học, trước tiên cần ghi nhớ kim chỉ nam mà chương trước đã giảng, khi đã ghi nhớ rồi, học tập lại càng dễ hơn.

Dịch: Trần Anh

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s