Bàn về chứng của Thái Dương (tiếp)

Nguồn: 刘渡舟著录.刘渡舟伤寒论讲稿[M]. 北京.人民卫生出版社,2008: 25 – 28.

(辨太阳病脉证并治法上)

Xem lại Phần 1

2. 太阳病,发热,汗出,恶风,脉缓者,名为中风 (2)

Trong tổng cương về Thái Dương lại phân tiếp thành hai chứng, một là chứng Thái Dương trúng phong, một là chứng Thái Dương thương hàn. Tổng cương là nói về đặc tính chung, trúng phong và thương hàn là nói về đặc tính riêng. Chữ “trung中” trong trúng phong đọc là “trúng”. Tiếp theo những gì đã nhắc đến ở phần 1,  tuy rằng vẫn là “bệnh Thái Dương”, mạch hoãn là mạch phù mà hoãn. Trúng phong chính là phong tà làm tổn thương phần biểu của Thái Dương. Chữ “trúng中” tương đương như chữ “thương伤”, đồng nghĩa với chữ “thương” trong thương hàn. Tuy vậy nhưng trúng phong nhẹ hơn thương hàn một chút. Phong là dương tà, khi làm tổn thương cơ thể thì bộ phận bị bệnh tương đối nông, ở phần Vệ chứ chưa đến phần Dinh. Bởi vì phong tà thuộc dương làm tổn thương khí Vệ dương của Thái Dương, cũng là dương tà mà thương dương khí, dương lạ gặp dương, cho nên triệu chứng phát nhiệt tương đối nổi trội.

Trong sinh lý, Vệ và Dinh có tác dụng hỗ trợ hòa hợp với nhau, chi viện cho nhau. Vệ đi ở ngoài mạch, Dinh đi ở trong mạch, Vệ thuộc về dương mà Dinh thuộc về âm, Vệ ở phía ngoài để củng cố, Dinh ở bên trong để giữ gìn, hai thứ này chi viện lẫn nhau. Phong tà xâm phạm mà cư ở phía ngoài Vệ dương, tà khí ở Vệ mạnh lên, cho nên gọi là “Vệ cường”. Từ góc độ chính khí để xem xét, khi tà khí ở Vệ mạnh lên, chức năng của cơ thể sẽ bị ảnh hưởng, sẽ không thể bảo vệ và giữ gìn Dinh âm. Từ góc độ tà khí để xem xét, đặc điểm của phong tà là thích di chuyển mà hay biến hóa, có tác dụng phát tiết, ép cho Dinh âm không thể giữ lại ở bên trong, cho nên ra mồ hôi. Hai triệu chứng phát nhiệt và ra mồ hôi thường gắn liền với nhau. Khí của phong tà thuộc dương làm tổn thương khí của Vệ dương, dương lại gặp dương, cho nên triệu chứng phát nhiệt sẽ nhanh hơn một chút, không giống như thương hàn là do hàn tà bế uất dương khí của Vệ khí, bế uất đến một mức độ nhất định mới phát nhiệt. Bởi vì phát nhiệt, tà khí của Phong, khai tiết của dương tà, lại cộng thêm Vệ khí không giữ được cho nên mồ hôi mới ra. Dựa theo quan sát lâm sàng, ra mồ hôi trong trúng phong thường không nhiều, so sánh với mồ hôi ra đầm đìa, ra nhiều như trong nhiệt chứng của Dương Minh, mồ hôi của chứng này chỉ đạt đến mức độ râm rấp ở bề mặt da. Làm một bác sỹ lâm sàng, nếu gặp phải một bệnh nhân cảm mạo phát sốt, nhất định phải chẩn mạch, dùng tay sờ trên da bệnh nhân xem khô ráo hay ẩm ướt. Nếu như da dẻ nóng bỏng mà lại khô ráo, đó là phát nhiệt không có mồ hôi; nếu như phát nhiệt mà da lại ẩm ướt có mồ hôi, đó là phát nhiệt, ra mồ hôi. Phát nhiệt, ra mồ hôi đều là đặc điểm của trúng phong. Continue reading

Advertisements

DỤNG DƯỢC TRONG “THƯƠNG HÀN LUẬN”: NGHIÊN CỨU VÀ THỰC TIỄN

DỤNG DƯỢC TRONG “THƯƠNG HÀN LUẬN”: NGHIÊN CỨU VÀ THỰC TIỄN[1]

Trong tư tưởng triết học của văn hóa cổ đại Trung Quôc Nho, Đạo, Thích, các sách y dược cổ đại như “Hoàng đế nội kinh”, “Nan kinh”, phân biệt  lí luận dược lý học của “Thương hàn luận” cung cấp cơ sở cho triết học, tài liệu thực tiễn về dược vật và trụ cột cho lí luận trung y, khiến cho “Thương hàn luận” trở thành lí pháp phương dược –  nối thông các sách y học kinh điển.

Dược vị dùng trong “Thương hàn luận” vốn không nhiều, nhưng trong sách lại bao hàm lí luận về dược lý học rất phong phú. Như liên quan đến bào chế dược vật, “Thương hàn luận” so với “Thang dịch kinh”, “Ngũ thập nhị bệnh phương”, về phương thức bào chế càng đa dạng, cũng càng tỉ mỉ hơn; về việc dùng lượng của dược vật, yêu cầu của  “Thương hàn luận” đối với liều lượng của dược vật càng nghiêm khắc; về phương diện phối ngũ của dược vật, “Thương hàn luận” càng nhấn mạnh thuộc tính tương phản khi dùng cùng nhau của dược vật, đối với điều trị những bệnh chứng phức tạp càng có ý nghĩa tích cực. Continue reading

LÝ LUẬN TIÊU BẢN

LÝ LUẬN TIÊU BẢN

  1. Nội dung của tiêu bản

Lý luận tiêu bản được biết sớm nhất bắt đầu từ “Linh khu – Vệ khí biện”. “Tiêu” “Thuyết văn” giải thích là “mộc diểu mạt dã”[1], “Đoạn chú” giải thích là “diểu, tiểu dã, mộc tế chi chi vị diểu[2]”. Những kiểu giải thích ở trên đại bộ phận đều chỉ bộ phận ngọn nhỏ mảnh của cây, thường là chỉ ngọn cây. “Tố vấn – Lục vi chỉ đại luận” chú: “tiêu giả bệnh chi thủy[3]”, “bản” “Thuyết văn” viết: “mộc hạ viết bản[4]”, “Lễ ký – lạc ký” nói: “do sơ dã[5]”, có ý nghĩa của cơ (bản), nguyên, sơ cũng có hàm ý chỉ gốc cây của thực vật, thường là để chỉ căn bản. “Tiêu” là chỉ ngọn cây, ở phía trên, tương ứng với các vị trí đầu, mặt, ngực, lưng của cơ thể. “Bản”  chỉ rễ cây, ở phía dưới, tương ứng với các đoạn dưới của tứ chi trên cơ thể. Continue reading