TỪ “KHÍ CỦA ĐẤT BỐC HƠI THÀNH MÂY” ĐỂ HIỂU ÂM THEO DƯƠNG ĐỂ THĂNG

Nguồn: 曾培杰,陈创涛编著. 任之堂跟诊日记4. 北京:人民军医出版社,2014: 5- 9.

1. Khí trên mặt đất là mây

Thầy tôi kể cả khi đi tham dự các hội nghị Y học, lúc nào cũng mang theo bên mình quyển “Trung y kinh điển yếu văn tiện độc[1], ngồi trên tầu bất kỳ lúc nào giở ra đọc, xem vài đoạn rồi cuộn lại trầm tư, giống như lúc Khổng Tử nghiên cứu “Dịch Kinh”, mang theo cuốn “Dịch Kinh”, “cư tắc tại tịch, hành tắc tại nang”[2], thật đúng là đi đứng nằm ngồi đều không rời khỏi y học!

2016-03-27 094146.jpg

Thầy tôi nói, kinh văn trong “Hoàng đế nội kinh” là hợp với đạo của trời, thứ “đạo” này không phải dựa vào thuộc lòng, mà dựa vào sự thấu hiểu. Thuộc lòng là bước đầu tiên của học y, giống như là thu hoạch thóc lúa tiểu mạch về nhà, còn thấu hiểu thì giống như đem thóc gạo nấu thành cơm hoặc mì có thể giúp cho con người ăn được vậy. Y học là môn học để mà dùng, tập thói quen thuộc lòng lại càng dễ cho thấu hiểu.

Chúng tôi hỏi thầy, làm thế nào để thấu hiểu được y lý có trong “Hoàng đế nội kinh”? Thầy tôi nói, học sách kinh điển cần phải kỹ không được qua loa, phải chậm không được loạn, phải ít mà tinh, tránh nhiều mà không chuyên sâu. Rất nhiều kinh văn xứng đáng để dành cả cuộc đời để nghiên cứu, có lúc chỉ cần hai câu trong kinh văn cũng có thể mở cánh cửa của ngộ tính. Nó tuy rằng chỉ phản ánh nguyên tắc cơ bản của thiên địa – giới tự nhiên – cơ thể, nhưng lại sâu sắc mà thực dụng.

Thầy tôi từ thanh dương xuất ra ở thượng khiếu, trọc âm xuất ở hạ khiếu, mà ngộ ra nguyên tắc về thăng thanh giáng trọc, đó là dựa theo hiện tượng của trời đất. Giả sử muốn làm cho nguyên tắc về thăng giáng càng phong phú hơn, thầy yêu cầu chúng tôi đi nghiên cứu xem nước trong giới tự nhiên thay đổi thành mây như thế nào, mây lại làm sao để biến thành mưa sương được. Điều này trong “Hoàng đế nội kinh” gọi là “khí của đất bốc lên thành mây, khí của trời rơi xuống thành mưa[3]”. Lại xem ngược lại cơ thể con người, tìm hiểu xem khí này tuần hoàn lưu chuyển, thăng giáng thay đổi như thế nào, khi ngộ được ra cách tư duy về hiện tượng tương ứng, thì rất nhanh có thể đem rất nhiều pháp cũng như phương dược để điều trị bệnh tật kết nối lại với nhau.

Hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu về “khí của đất bốc hơi thành mây”.

Thủy khí trên mặt đất biến đổi thành mây trên trời như thế nào? Nó cần phải có dương khí mới bốc hơi được, dương khí trong cơ thể bắt nguồn từ Tâm, Thận, Tâm là Thái Dương, từ mạch thốn bên trái mà đi chiếu rọi khắp nơi, khiến cho thủy khí nhận được dương khí mà thăng. Thận giống như nham thạch trong lòng đất, có thể làm ấm áp thủy khí, giúp cho khí hóa mà bốc hơi lên trên. Như thế thì thủy khí trên mặt đất từ từ bốc hơi lên trên mà thành mây trên trời, trong quá trình này, dương khí đóng một vai trò rất quan trọng.

2016-03-27 094229.jpg

Hoàng đế nội kinh” có nói, dương hóa khí, nếu như không nhờ tác dụng của dương khí, những thứ âm thủy này không thể bốc lên trên được. Cho nên, chúng ta gọi hiện tượng thủy từ bên trái bốc hơi lên trên là “âm theo dương  để thăng”, đây cũng là chính là một nửa bên trái của thái cực. Chúng ta có thể phát hiện ra, nửa bên trái của con cá âm dương, khi dương nhãn chạy lên trên, những vật chất thuộc về âm đều bị nó kéo theo lên trên.

2. Miệng khô và nắp vung

Có một bệnh nhân nữ, 16 tuổi, miệng khô nửa năm, đêm đi tiêu nhiều, uống nước cũng không đỡ khát.

Cô hỏi thầy tôi, miệng tôi khô như vậy có phải do thiếu nước không, tại sao luôn có cảm giác uống nước không đủ, không thể đỡ khát? Thầy tôi nói, miệng cô khô như vậy không phải do thiếu nước, mà là do thiếu một luồng dương khí. Cơ thể sau khi bị thiếu hụt đi luồng dương khí này, không thể ôn ấm tứ chi, cho nên mùa đông chân tay cô đều lạnh; không thể ôn hóa thủy khí, cho nên thủy dịch này không thể sử dụng để tuần hoàn khắp cơ thể. Cô phía trên thì khát, phía dưới thì không thể bài tiết ra được. Dương khí không đủ, khí hóa không đủ, lượng nước bốc hơi lên đến khoang miệng sẽ ít, cho nên uống nước không đỡ khát.

Thầy tôi đề nghị cô ăn Phụ tử Địa hoàng hoàn, sau khi ăn xong mấy hộp, không chỉ miệng không khát nữa, mà tiểu đêm cũng ít đi. Vậy giải thích thế nào đây? Hóa ra thủy khí trong cơ thể cô ấy khi được khí hóa tuần hoàn, chức năng bế tàng chưng cất của thận đồng thời được tăng cường, không chỉ tiểu đêm ít đi, mà trong miệng thường được duy trì trạng thái ẩm ướt, có tân dịch.

Thông thường, chúng ta khi nhìn thấy miệng khô rất dễ dàng nghĩ đến dùng nhuận âm. Thầy tôi nói, cách tư duy này có phần phiến diện, thứ âm sinh ra do bạn nhuận nếu như không được hóa thì là tử âm, phản tác dụng là làm tăng thêm gánh nặng cho cơ thể. Vậy thì làm sao để có thể khai hóa chỗ âm dịch này?

Thầy tôi nói, âm mà không có dương thì không hóa, giống như nước có thể lưu động, như bên trong quẻ khảm có chứa một điểm dương, cho nên chúng ta dùng Phụ Tử Địa hoàng hoàn, trên cơ sở của Lục vị Địa hoàng hoàn gia thêm Phụ Tử và Nhục Quế, có thể dùng dương khí của Tâm Thận để làm cho bốc hơi lên. Như thế sau khi âm dịch bị bốc hơi lên trên, miệng nhận được âm dịch mà không khô.

Ở đây còn có thể lấy ví dụ, so sánh với nồi to mà ở nông thôn thường dùng để đun nước, khi đáy nồi không có nước hoặc khi lửa không đủ to, nước trong nồi không thể nào sôi, không thể khí hóa bốc hơi lên trên, cho nên nắp vung từ đầu đến cuối đều khô. Dù cho bạn cho thêm bao nhiêu nước vào nồi, nắp vung của nó vẫn khô. Lúc này bạn làm cho lửa to lên, đợi nước sôi, nắp vung tự nhiên sẽ ẩm ướt không khô. Đó chính là “âm theo dương để thăng”, những thứ thuộc âm dịch này, vì nhờ vào dương khí dưới đáy nồi mà bốc hơi được lên trên.

3. Cát Căn thang và dương không hóa khí

Có một cô gái trẻ, hơn 20 tuổi, làm việc ở siêu thị, bởi ở trong môi trường dùng điều hòa thời gian dài, lại dùng máy tính nhiều, mới có ít tuổi mà đã có bệnh về cột sống cổ, cổ vai cứng nhắc chai cứng nghiêm trọng, toàn bộ lưng vai đau mỏi khó chịu, đã tiêm thuốc nhiều lần thấy rằng không cải thiện rõ ràng, nên tìm tới uống thuốc đông y.

Thầy tôi xem mạch cô ấy xong nói, mạch Thốn bên trái thiếu hụt nghiêm trọng, tạng Tâm, phần vai gáy, đầu não dương khí đều không đủ, sau lưng rất dễ bị lạnh. Cô ấy nói, đúng vậy, tôi không dám đứng chỗ nào gió thổi trực tiếp, chỉ cần có gió là tôi bị cảm.

Thầy tôi nói, cô nên ít ngồi điều hòa, ra ngoài hoạt động nhiều hơn, tắm ít nắng.

Cô ấy lại hỏi, thưa bác sỹ, lưng vai của tôi thì giải thích thế nào? Thầy tôi nói, lưng vai của cô thiếu đi một luồng dương khí, cho nên cơ nhục của phần lưng giống như mảnh đất cằn cỗi, qua nhiều năm tháng không có ai đi cày bừa. Cô cần phải vận động nhiều hơn, dùng lưng cọ sát vào tường, giống như nông dân cày đất vậy, làm cho cơ nhục ở phần lưng được sơ thông giãn nở. Thầy tôi ngay tại đấy dậy cô ấy làm thế nào để cọ sát lưng vào tường, cọ sát chưa được 2 phút thì cô ấy nói vai lưng không còn mỏi như vậy nữa.

Sau đó, thầy thôi lại kê cho cô ấy Cát Căn thang gia Bối tam dược (Phòng phong, Khương Hoàng, Tiểu Thân Cân thảo[4]) . Bệnh nhân sau khi uống được vài thang thuốc, kết hợp với cọ lưng vào tường, khi tới khám lại thì nói : “bác sỹ, thuốc của ông tốt thật đấy, sau khi uống thuốc, tôi không sợ lạnh nữa, lưng vai từ trước tới giờ chưa bao giờ thấy nhẹ nhàng như thế này, trước kia cổ rất dễ mỏi, giờ không có cảm giác gì nữa”.

Thầy tôi nói, “Hoàng đế nội kinh” có viết: “dương khí giả, tinh tắc dưỡng thần, nhu tắc dưỡng cân”[5]. Chúng ta thấy cây cối có hai loại trạng thái dẫn đến khô kiệt, một loại thiếu đi sự ẩm ướt của nước, thiếu nước mà khô; một loại khác là trong khi phát triển gặp phải khí lạnh, hàn chủ co rút, cho nên mùa đông cây cối dễ dàng bị khô kiệt, đó gọi là cây gặp lạnh mà khô.

Mộc tương ứng với Can trong cơ thể người, Can chủ Cân, cho nên phàm các chứng cân của vai gáy không thư giãn, khi điều trị dựa theo 2 hướng suy nghĩ kia để điều trị, một là tưới nước cho nó, thầy tôi thường trọng dụng Bạch thược 30 -50g, nhu can hoãn cấp, phối với Đại Táo, Chích Cam Thảo, đều là một mạch suy nghĩ bổ thủy, nhuận can mà thôi.

Nhưng chỗ nước này cơ thể có thể hấp thu vận hóa không? Đó lại là một chuyện khác. Chúng ta thấy mùa đông cây cối khô, bạn có tưới cho nó chút nước, nó cũng hấp thu không nổi. Thế nhưng mùa hè lại không thế, có thêm chút nước, cành lá lại tươi tốt sum suê. Bởi vì nó có nhiều dương khí, có dương khí, thì có thể khiến cho nước từ phần rễ bốc hơi lên trên cho đến cành lá, đáp ứng nhu cầu sinh trưởng của cành lá ở phía trên. Hơn nữa, ở đây thầy tôi trọng dụng Cát Căn, Quế Chi, còn dùng Sinh Khương, đó chính là một luồng dương khí, khiến cho âm dịch từ Tỳ Vị bốc hơi, thăng phát lên đến lưng, cổ, vai gáy, đầu não, khiến cho âm dịch vừa bổ sung vào có thể cùng với dương khí luân chuyển tuần hoàn khắp nơi. Nếu như không có luồng dương khí này, âm thủy vừa bổ vào không thể được khí hóa một cách tốt nhất để tới phần vai cổ. Cho nên, trường hợp này cũng gọi là “âm theo dương để thăng”, các thứ thuộc phần âm như Bạch Thược, Đại Táo, chích Cam thảo thuận theo nhóm dương khí là Cát Căn, Quế Chi, Sinh Khương, lưu chuyển về đầu cổ vai gáy của thốn mạch. Như thế hiện tượng phần cổ gặp phải hàn khí, phần cổ cứng nhắc do thiếu nước sẽ được tưới nhuần. Cho nên bệnh nhân sau khi uống thuốc, cảm thấy rõ ràng triệu chứng giảm mạnh. Đó cũng là vì sao Cát Căn thang  của “Thương Hàn luận” là phương cơ bản để chữa trị các loại bệnh cột sống cổ. Thực ra nó không chỉ chữa các loại bệnh cột sống cổ, chúng ta từ hiện tượng “âm theo dương để thăng” để xem xét, nó chính là phương chung để chữa trị các  loại bệnh dương không hóa khí!

Ở Triều Sán – Quảng Đông có một thầy thuốc Trung y già, thường dùng Cát Căn thang gia vị chữa trị các loại bệnh mạn tính, bao gồm cả ung thư. Lúc đó tôi vừa học “Thương Hàn luận”, đối với thầy thuốc Trung y già này chuyên dùng một loại kinh phương để biến hóa thì thấy rất khó lý giải. Nhưng hiệu quả điều trị bệnh của ông lão ở vùng đó thì quả thực ai cũng ca ngợi. Cát Căn thang chẳng phải để điều trị bệnh cột sống cổ ư? Đối với các bệnh mạn tính như ung thư, rõ ràng chẳng liên quan gì đến nhau.

Nhưng giờ chúng ta xem thì thì không hẳn như vậy. Thầy tôi thường nói, một thầy thuốc Trung y có thể dùng một hai phương thuốc đi khắp trời đất, ý nghĩa ở đây không hề đơn giản. Khi chúng tôi xem phương này, từ bệnh lý cột sống cổ để xem xét cách mà dương hóa khí ở sau lưng, một lúc tự nhiên hiểu thông cả. Đa phần ung thư là vật chất hữu hình, chính là quá trình âm thành hình. Chúng ta cần phải làm cho quá trình này quay ngược trở lại, chuyển thành dương hóa khí, giống như sự hình thành băng là do gặp hàn khí mà ngưng lại, nhưng băng tan thì chắc chắn phải nhờ dương khí để hóa.

Thầy tôi tại sao lại vẫn cần thêm vào Bối tam dược? Việc này có ý nghĩa gì? Hóa ra phàm là bệnh nhân mà phần lưng căng cứng tê mỏi, cơ nhục trên lưng giống như mảnh đất khô cằn không được cầy bừa, Bối tam dược có thể trực tiếp dẫn thuốc vào vùng lưng, hơn nữa lại có thể sơ thông cơ nhục phần lưng, giống như nông dân đem đầu bừa để cầy xới đất lên vậy. Chỉ cần khiến cho đất đai được vỡ ra, tưới thêm chút nước, lại phơi thêm ít nắng, cây cối gieo trồng trên đó sẽ sinh trưởng rất tốt. Lại dặn bệnh nhân khi về cọ sát lưng vào tường nhiều, động tác nhỏ này lại bao hàm ý nghĩa sâu sắc, đó là trực tiếp dùng phương pháp điều trị bên ngoài để giúp đỡ bệnh nhân làm thư giãn cơ nhục sau lưng, cũng tương đương tác dụng của Bối tam dược.

4. Chóng mặt và múc nước giếng

Thập Yến có một bệnh nhân nam, hơn 50 tuổi, chóng mặt đã hơn 2 năm. Ông tự cho rằng mình thiếu máu, dùng không ít thuốc bổ huyết nhưng cũng không hiệu quả. Bác sỹ tây y nói, là do thiếu máu lên não, ông lại tiêm thêm các thuốc hoạt não và bổ não, có chút cải thiện, nhưng sau đó lại chóng mặt. Ông liền tới Nhân Chi Đường để điều trị Trung Y.

Thầy tôi xem mạch của ông rồi nói, mạch của ông hạ hãm, não thiếu đi một luồng dương khí, rất dễ chóng mặt, hồi hộp, sau lưng sợ lạnh.

Ông ta nói: đúng vậy thầy thuốc ạ, bác sỹ Tây y nói tôi thiếu máu não.

Thầy tôi nói, tuy rằng là cấp máu không đủ, tại sao dùng nhiều thuốc bổ huyết như vậy mà không có tác dụng? Trường hợp của ông không phải do thiếu máu lên não, nguyên nhân chính là do mạch thượng tiêu không nâng lên được, ở đầu thiếu đi một luồng dương khí. Cho nên cả ngày cứ xây xẩm nặng trịch, tính cách cũng dễ khô héo trầm uất. Ông đi ra bên ngoài phòng khám, gọi thật to tên của chính ông, khiến cho dương khí phát ra, thì sẽ dễ chịu một chút.

Đối với những người cảm thấy khô héo trầm uất, thầy tôi thường yêu cầu họ tự hét thật to tên mình, rất nhiều người sau khi hét vài lần, vã chút mồ hôi, toàn bộ tinh thần cũng phấn khởi lên.

Thầy tôi lại kê cho ông ta Quế chi thang hợp với Thông mạch ẩm, Cát Căn, Đan Sâm, Xuyên Khung, lại gia thêm Tâm tam dược (Hồng Sâm, Ngân Hạnh diệp, Hồng Cảnh Thiên[6]). Bệnh nhân sau khi uống thuốc tới tái khám, triệu chứng chóng mặt giảm rõ, sắc mặt hồng nhuận. Ông ta muốn uống tiếp vài thang, nói rằng uống thuốc này rất dễ chịu.

Thầy tôi nói, bệnh nhân này thốn mạch bất túc, cơ thể ông ta cần một luồng dương khí, khí là soái của huyết, trước tiên khí phải lên được đến đại não, tinh vi thủy cốc sau khi hóa sinh là huyết, tân dịch mới có thể theo đó mà được đưa lên trên. Nếu như không có luồng dương khí này, vậy thì ở phía dưới Tỳ Vị có bổ thêm bao nhiêu huyết, dinh dưỡng cũng không thể tới được phần đầu.

Điều này cũng rất giống chúng ta múc nước trong giếng, trong giếng có rất nhiều nước, nhưng nước cũng không thể nào vô duyên vô cớ từ giếng chạy lên cho bạn uống, vậy thì phải làm sao? Chúng ta cần phải lấy cái gầu quăng xuống dưới, đợi gầu đầy nước, rồi dùng lực kéo lên, làm cho gầu từ dưới đáy giếng được đưa lên trên. Quá trình này bắt buộc phải có sẵn hai điều kiện, một là giếng bắt buộc phải có nước, một là lực kéo thùng nước của bạn phải đủ, có thế thì nước hữu hình dưới lực kéo của khí vô hình mới có thể bị kéo lên được.

Ví dụ này rất sinh động. Phương này cũng là phương thường quy để thầy tôi điều trị các trường hợp chóng mặt có thốn mạch bất túc, sau lưng sợ lạnh, ý nghĩa của phương này giống như múc nước giếng vậy. Bạch Thược, Đại Táo, Cam Thảo, Tâm tam dược, còn có Đan Sâm cho đến các loại thuốc dưỡng âm, giống như là nước ở đáy giếng, nói thẳng ra, chính là các thứ âm dịch của ngũ tạng, các thứ âm dịch này nếu như thiếu đi một luồng dương khí để nâng lên phía trên, nó sẽ không thể cung cấp đầy đủ cho đầu não phía trên để sử dụng. Bởi vì đầu não là hội của chư dương, dương khí ở trên cần phải đủ, âm huyết mới có thể đi lên trên, giống như ánh mặt trời phải đầy đủ, một lượng lớn nước trên mặt đất mới có thể bốc hơi lên trên. Vậy thì cái gì là lực kéo chính ở trên miệng giếng phía trên? Miệng giếng ở phía trên, tương đồng với đầu não của cơ thể ở phía trên, Cát Căn, Xuyên Khung, Quế Chi, Sinh Khương đều là một luồng dương khí, nâng kéo lên trên, giống như chúng ta dùng sức mạnh của lực vô hình kia để múc nước giếng. Có lực kéo này rồi, nước giếng nhanh chóng bị kéo lên đến miệng giếng. Đầu não nhận được sự cung ứng đầy đủ của khí huyết thì sẽ không chóng mặt nữa.

Đây cũng là quy tắc “âm theo dương để thăng”. Không có luồng dương khí này, có dùng thêm nhiều thuốc bổ huyết, thốn mạch không kéo lên được, cũng không thể bổ được đến đầu não. Nếu như thốn mạch có thể kéo lên, dương có thể hóa khí, thì kể cả ăn uống đơn giản cũng có thể hấp thu, điều phối cung cấp được đến đầu não. Đại não nhận được tinh vi thủy cốc, lập tức không chóng mặt nữa. Có thể nói cái gọi là máu lên não không đủ chỉ là biểu hiện, phần đầu dương khí không đủ, âm không thể theo dương để thăng, mới là thực chất.

Con người bây giờ làm gì có chuyện thiếu hụt dinh dưỡng nhiều thế, phần lớn là do thiếu đi một luồng dương khí, không có tác dụng của dương khí, dinh dưỡng không thể bị chưng cất hóa khí toàn bộ để dùng, cho nên chúng ta không phải cân nhắc bổ nhiều ít, mà phải cân nhắc làm thế nào để bảo vệ tốt dương khí của cơ thể, ít ăn uống các đồ sống lạnh, đi ra ngoài vận động nhiều, tắm nắng. Như thế bạn ăn uống đơn giản cũng đã hơn sơn hào hải vị.

Chú thích: 

[1] 中医经典要文便读

[2] 居则在席,行则在囊

[3]地气上为云,天气下为雨[địa khí thượng vi vân, thiên khí hạ vi vũ]:  khí của đất bốc hơi thành mây, khí của trời rơi xuống thành mưa.

[4] 背三药(防风、姜黄、小伸筋草): 3 thuốc chủ trị phần lưng. Trong đó Thân Cân Thảo: thuộc họ thạch tùng (Common clubmoss herb Latin)

[5] 阳气者,精则养神,柔则养筋[dương khí giả, tinh tắc dưỡng thần, nhu tắc dưỡng cân]:

[6] 红景天[Hồng Cảnh Thiên]: tên Latin: Rhodiola rosea L..  Tính hàn, vị ngọt chát, quy kinh Phế. Có tác dụng bổ khí thanh Phế, ích trí dưỡng tâm, cầm máu, tán ứ tiêu thũng. Chủ trị khí hư thể trạng nhược, khí hư vô lực, ho do phế nhiệt…  Tham khảo baidu: http://baike.baidu.com/link?url=qCcVcLSuEEw8CvpqWDLddplUfgxeRSuQpdNyk6OT3jHHmsRL_jxqa1V0rqLZZ8EvQmTHKdtDUmvqDWGumWgvyTlRSA19cdTPv71oNO-rjH3

 

Dịch: Trần Anh

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s