Đặc điểm dùng thuốc bệnh lý liên quan đến tạng Can

Nguồn: 余浩. 医间道. 北京. 中国中医药出版社,2011:33 – 34. 

Để nghiên cứu về dùng thuốc cho các bệnh liên quan đến tạng Can, chúng ta phải xem lại chức năng tạng Can trước.

Can thuộc mộc, chủ sơ tiết, chủ tàng huyết, Can tàng hồn, là tạng chủ về cân nhắc mưu lược, khai khiếu ở mắt, Can chủ cân, nhuận ra ở móng, về tình chí là giận dữ, về âm thanh là tiếng hét tiếng động lớn, về dịch là nước mắt. Đó là những điều cơ bản và cũng không có gì để tranh luận cả, từ những thứ này để bắt đầu chắc chắn không sai, chắc chắn không có tình trạng mỗi người một ý, ai cũng cho mình là đúng.

1. Dùng thuốc trong trường hợp tạng Can sơ tiết bất thường

Sơ tiết bất thường, trên lâm sàng thường gặp nhất là tình trạng Can khí uất kết. Đa phần nữ giới đều tồn tại trạng thái Can khí uất kết, hơn nữa phần nhiều có liên quan đến tình chí uất ức.

Trên lâm sàng, ngoài nguyên dân do tình chí uất ức dẫn đến Can khí uất kết, các thay đổi bệnh lý của bộ máy Gan Mật cũng có thể dẫn tới Can mất chức năng sơ tiết, xuất hiện Can khí uất kết, ví dụ: gan nhiễm mỡ, sỏi mật, bệnh nhân viêm gan nhiễm độc, đều tồn tại bệnh cơ của Can khí uất kết. Cho nên, không nên đặt dấu bằng giữa “Can khí uất kết” và “tình chí uất ức”. Bệnh nguyên có nhiều loại, nhưng kết quả thì như nhau, đều dẫn tới Can khí uất kết, tạng Can sơ tiết bất thường, về điều trị đều giống nhau cả.

Sau khi Can khí uất kết, bệnh nhân sẽ có các biểu hiện đau ngực, tức ngực, trướng bụng, khó thở…. Giống như điểm Can trên bánh xe bị chặn lại, khi dùng thuốc, thông qua sơ thông Can khí thì sẽ có thể sửa chữa, dược vật để sơ thông Can khí có những loại nào?

Dược vật sơ can lý khí gồm có: Sài Hồ, Hương Phụ tử, Uất Kim, Thanh Bì, Xuyên Luyện Tử[1], Quất diệp[2], Bạc Hà, Bạch Tật Lê, Sinh Mạch Nha…

Nếu Can khí uất kết không kịp thời điều trị, khí uất thời gian dài, sẽ hóa thành hỏa, tức là Can uất hóa hỏa, bệnh nhân sẽ xuất hiện các triệu chứng như  tâm trạng phiền táo, tính cách nóng nẩy, khi này nếu điều trị, ngoài sơ can lý khí, còn cần phải thanh can tả hỏa.

Thanh Can hỏa: Tang diệp, Cúc hoa, Thanh Tương tử[3], Quyết Minh tử, Hoàng Cầm, Thanh Đại[4], Chi tử, Đan Bì, Hạ Khô Thảo, Linh Dương Giác…

Tả Can hỏa: Long Đởm thảo, Xuyên Luyện tử…

Đồng thời, Can uất hóa hỏa kéo dài lâu ngày, hỏa tà sẽ thương Can âm, dẫn đến tạng Can âm huyết không đủ, bệnh nhân ngoài tâm trạng phiền táo, sẽ xuất hiện các triệu chứng như hai mắt khô ráp, nhìn mọi vật mờ mờ, ức sườn đau… Khi này nếu điều trị, ngoài sơ Can lí khí, càng quan trọng hơn nữa là dưỡng Can âm, dưỡng Can huyết.

Dưỡng Can âm, dưỡng Can huyết có thể chọn trong các thuốc sau: Sơn Thù nhục, Sinh Địa, Thục Địa, Nữ Trinh Tử, A Giao, Bạch Thược, Ô Mai….

Nếu vẫn tiếp tục không được điều trị, bệnh tình sẽ nặng lên, ngoài Can âm bị tổn thương, sẽ xuất hiện tạng can khô héo, bị xơ, thu nhỏ, cũng chính là Xơ gan mà chúng ta thường nhắc đến, lúc này điều trị cần phải dương huyết nhu can.

Nhu Can dưỡng huyết: Đương Quy, Bạch Thược, Thủ Ô, Câu Kỷ, Kê Huyết Đằng, Mộc Qua, Miết Giáp…

Ở đây đem Can khí uất kết gây ra thay đổi bệnh lý phân thành bốn tầng, liệt kê ra từng tầng một. Trên lâm sàng gặp phải bệnh nhân Can khí uất kết, cần phải nghĩ tới bệnh nhân đang ở giai đoạn nào, có hay không có hóa hỏa? Có hay không có thương âm? Có hay không có khô héo? Ở các giai đoạn khác nhau, lúc chữa bệnh đều thiên về chỗ nặng, có thể dựa vào phần nặng hơn để chọn sử dụng các loại thuốc trên.

Trừ Can khí uất kết, còn có bệnh cơ khác hay không? Trên bánh xe kia liệu còn có khả năng xuất hiện vấn đề khác? Vẫn còn! Can khí cần thăng, nếu như thăng phát vô lực làm thế nào? Nếu như thăng phát quá mức làm thế nào?

2. Dùng thuốc khi can khí thăng phát quá mức

Thăng phát không đủ, là can khí hạ hãm, có cách gọi khác là mộc khí hạ hãm xuống thủy, thủy ở đây là chỉ Thận thủy, tức Thận âm. Phép để trị tận gốc chính là thăng phát Can khí, một mặt bổ Can khí, tăng cường sức mạnh thăng phát của tự bản thân tạng Can, có thể dùng Hoàng Kỳ…; một mặt vận dụng tác dụng thăng đề của thuốc, giúp cho tạng Can thăng phát, như Sài Hồ, Bạc Hà, Sinh Mạch Nha…

Thăng phát quá mức, Can khí thượng xung, sẽ xuất hiện đau nửa đầu. Có bệnh nhân sẽ xuất hiện huyết áp tăng cao, lúc này điều trị sẽ phải giáng khí. Giáng Can khí chính là “trấn Can, bình Can”, tại sao gọi là “trấn”, “bình”, lấy ví dụ giống như trong nội bộ một đất nước xuất hiện bạo loạn, cần phải trấn áp, cần phải dẹp yên, ở đây là trấn áp Can khí, bình tức [dẹp yên] Can khí.

Thuốc trấn Can thường dùng: Đại Giả Thạch[5], Linh Từ Thạch[6], Thạch Quyết Minh, Trân Châu Mẫu, sinh Long Mẫu[7]

Thuốc bình Can thường dùng: Cúc Hoa, Bạch Tật Lê, Thiên Ma, Câu Đằng…

Giả dụ Can khí thượng thăng, không kịp thời điều trị, sẽ hóa thành Can phong, trên lâm sàng xuất hiện triệu chứng run tay, khi điều trị ngoài trấn Can, bình Can, đồng thời còn phải tức Can phong.

Thuốc tức Can phong thường dùng: Lộc Dương Giác, Câu Đằng, Thiên Ma, Bạch Tật Lê, Cương Tằm, Toàn Yết, Ngô Công…

Trấn Can, bình Can, tức Can phong có thể giảm nhẹ bệnh tình, nếu như không dùng thuốc, Can khí lại thăng lên quá mức, vậy nên dùng thuốc như thế nào?

Cổ nhân sáng lập ra phương pháp “tư thủy hàm mộc”, tức là nhờ bổ dưỡng Thận âm để tư dưỡng Can mộc, Can khí sẽ trở nên nhu hòa, sẽ không thăng phát quá mức. Bổ dưỡng Thận thủy dùng thuốc gì? Tới phía sau khi nói tới phần của Thận sẽ nói kỹ hơn.

Ngoài những gì đã nhắc đến ở trên, mắt xích tạng Can này, có có hay không các vấn đề khác? Vẫn còn, như là sau khi bị nhiễm lạnh, hàn ngưng ở Can kinh, lâm sàng xuất hiện triệu chứng tinh hoàn đau nhức.

3. Dùng thuốc khi hàn ngưng ở Can kinh

Hàn là âm tà, tính của nó là co rút, hàn tà nội xâm, dễ gây tổn thương dương khí, ngưng trệ ở Can kinh, cân mạch tắc trệ, thì những nơi trên đường tuần hành của Can kinh xuất hiện đau nhức. Có thể sử dụng: Ngô Thù, Tiểu Hồi, Tiên Linh Tỳ, Lệ Chi Hạch, Xuyên Tiêu… để điều trị. Thiên Thái Ô Dược tán[8] chính là phương thuốc kinh điển để điều trị khí trệ hàn ngưng ở kinh Can.

Đã nhắc đến Can kinh nhiễm lạnh, tự nhiên Can kinh cũng sẽ có trường hợp có nhiệt, lâm sàng thường gặp là Can kinh thấp nhiệt.

4. Dùng thuốc khi Can kinh thấp nhiệt

Thấp tà đình lưu ở kinh Can, dẫn đến Can kinh thấp nhiệt, bệnh nhân có thể xuất hiện đau tức mạn sườn bên phải, ăn uống kém, tiểu vàng, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng nhớt… Có thể chọn dùng Câu Kỷ, Long Đởm Thảo, Hoàng Cầm, Nhân Trần… Long Đởm tả Can thang, Nhân Trần Ngũ linh tán là phương thuốc kinh điển để điều trị Can kinh thấp nhiệt.

Nắm rõ được 4 điểm này, sửa chữa điểm “Can” này trên bánh xe coi như đã có manh mối, lại kết hợp với giáo trình để học thêm về Trung dược, các kiến thức về Trung dược sẽ càng sâu sắc hơn.

Gợi ý hành trình: xem xong phần đã bàn ở trên về đặc điểm dùng thuốc tương ứng với bệnh cơ của tạng Can, có phải bạn cảm thấy rằng dùng cách này để học về Trung dược thì đã khiến cho lí luận cơ bản Trung Y, Trung dược học, cho đến phương tễ học liên hệ lại được với nhau, không còn là đơn độc học về Trung dược? Học theo cách này, bạn có thể đem những kiến thức đã học được xâu chuỗi lại với nhau, khi học không còn băn khoăn đến một vài bệnh như viêm gan B, gan nhiễm mỡ, xơ gan… nữa, mà thay vào đó là cân nhắc đến bệnh cơ – cơ chế dẫn đến tạng Can mất điều hòa!

[1] 川楝子/ Xuyên Luyện Tử

[2] Lá quýt, quất.

[3] 青箱子Tên khoa học Celosia argentea L. thuộc họ Giền Amanthaceae, là hạt của cây Mào gà hoa trắng. Theo tài liệu cổ: thanh tương tử vị đắng hơi hàn, vào can kinh. Có tác dụng khử phong nhiệt, thanh can hỏa, làm sáng mắt.

[4] 青黛: Thanh đại (Indigo pulverata levis) còn gọi là Bột chàm được chế từ nhiều cây khác nhau. Vị mặn, tính hàn. Có sách ghi vị ngọt tính bình (Dược tính bản thảo) hay vị đắng tính hàn, không độc (Bản thảo tái tân). Qui kinh Can, Phế, Vị, Tỳ.

[5] 代赭石: Đại Giả Thạch và Linh Từ Thạch đều là thuốc bình can trấn phong, đều có nguồn gốc khoáng chất. Đại Giả thạch thành phần chính là Fe2O3

[6] 灵磁石: Linh Từ Thạch, thành phần chính Fe3O4 và thường kèm theo một số kim loại khác

[7] 生龙牡:  sinh Long Cốt và Mẫu Lệ

[8] 天台乌药散: Thành phần: Thiên Thái Ô Dược, Mộc Hương, Tiểu Hồi Hương (sao qua), Thanh Bì, Cao Lương Khương mỗi thứ 15g, Binh Lang 9g, Xuyên Luyện Tử, Ba Đậu mỗi thứ 12g. Cách dùng: 8 vị trên, Ba Đậu đập vỡ cùng với Xuyên Luyện Tử đem sao đen, bỏ Ba Đậu và vỏ ngoài không dùng, đem chỗ thuốc còn lại tán nhỏ, mỗi lần uống 3g; cách dùng hiện nay: Ba Đậu và Xuyên Luyện Tử sao đen, bỏ Ba Đậu, các thuốc đem sắc lên lấy nước, lúc dùng dùng Hoàng tửu để dẫn. [Hoàng tửu: 1 loại rượu của Trung Quốc]. Công năng: hành khí sơ can, tán hàn chỉ thống. Chủ trị: Can kinh hàn tà ngưng trệ.

 

Dịch: Trần Anh

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s