Kinh nghiệm điều trị tiêu chẩy mạn của Chu Lương Xuân

Nguồn: 朱良春. 中国百年百名中医临床家丛书,国医大师卷,朱良春. 北京.中国中医药出版社, 2011, 84 – 87.

Tiêu chảy mạn tính là một bệnh thường gặp trên lâm sàng, thời gian bị bệnh thường kéo dài triền miên, bị đi bị lại. Tôi điều trị tiêu chảy mạn, luôn luôn tuân thủ tôn chỉ trong “Nội kinh”: “Hữu giả cầu chi, vô giả cầu chi有者求之,无者求之”, “trị bệnh phải tìm đến gốc治病必求于本”, “hữu” và “vô” có nghĩa là chỉ “có” và “không có” tà khí. Không có tà khí thì phải cầu đến Tỳ Thận, có tà khí thì bắt buộc phải chú ý đến tà khí. Hơn nữa “gốc” trong “trị bệnh phải tìm đến gốc” không phải chỉ âm tinh, dương khí, mà là tìm đến nguyên nhân khởi bệnh, cũng tức là Trương Giới Tân thường gọi là “gốc bệnh 病本”.

1. Tỳ Thận là gốc, chú trọng đến ích hỏa bổ thổ

Luận về điều trị tiết tả, chủ yếu là nói đến tiêu chẩy cấp và tiêu chẩy mạn. Tiêu chẩy cấp thì do thấp thịnh, mà tiêu chẩy mạn thì phải trách đến tỳ hư, cho nên tiêu chẩy mạn phần nhiều từ tỳ vị mà luận trị. Bởi vì “Tỳ hư thì mất chức năng kiện vận, thấp trọc nội sinh, tiết tả vì thế mà thành脾虚则建云无权,湿浊内生,泄泻以成”. Bệnh lâu ngày thì bệnh từ Tỳ liên lụy đến Thận, mệnh hỏa suy yếu. Rút củi đáy nồi, hỏa không ôn được thổ, Tỳ Thận đồng bệnh, lâu ngày thành tiêu chẩy không ngừng, thủy hỏa không hóa, sôi ruột chướng bụng, bụng đau nhâm nhẩm, thậm chí ngũ canh tiết tả, lưỡi đạm rêu mỏng, mạch tượng trầm tế chính là căn cứ để biện chứng. “Tỳ vượng không bị nhiễm tà”, “Tỳ Thận là gốc, chú trọng đến ích hỏa bổ thổ”, có nghĩa là khi điều trị chủ yếu kiện tỳ vận trung tiêu, thêm vào đó là ôn thận ích hỏa. Dùng thuốc Đảng Sâm, Bạch Thuật, Phục Linh, Sơn Dược lượng nên tăng lên, mục đích là phương thuốc có thể làm Tỳ vượng lên mà tiêu hóa thủy cốc. Tả lâu ngày thể trạng hư nhược dùng Kỳ, Thăng, Sài ích khí thăng thanh, khích lệ Tỳ khí. Đi ngoài lỏng toẹt không cầm, cân nhắc gia thêm Kha tử nhục, Vỏ lựu thu liễm chỉ tả. Còn như các thuốc ích hỏa như Nhục Quế, Phụ Tử dùng lượng nhỏ, bởi vì tiêu chẩy lâu ngày không chỉ thương dương, mà còn thương âm. Nếu như thể trạng nhược đa phần không thể chịu được các thuốc Quế, Phụ, bắt buộc phải quan tâm đến Đốc mạch, Đốc mạch là tổng phần dương của toàn cơ thể, khí của Đốc mạch, là động lực để phân bố mệnh hỏa, thông bổ Đốc mạch thì dương sẽ hồi, thường dùng Tiên Linh Tỳ仙灵脾, Lộc Nhung鹿角霜, Thỏ Ty Tử菟丝子, Bổ Cốt Chi补骨脂, Xích Thạch Chi赤石脂…. các thuốc ôn thận mạnh đốc, nhờ thế mà chấn hưng được thận dương, ôn ấm mà làm mạnh đốc mạch, thường thường sẽ đạt hiệu quả. Tháng 2 năm 1986, tôi từng chữa cho Thầy giáo Vương, đi ngoài đã tái diễn 3 năm, từng được điều trị triệu chứng, kháng viêm Trung – Tây y thông thường, đạt được hiệu quả rất ít. Khám thấy: tiêu chẩy, đi ngoài loãng, ăn xong không tiêu hóa, ăn uống khó tiêu bụng đầy chứng, lưng đau sợ lạnh, mạch trầm mà tế, xem thấy lưỡi nhạt rêu mỏng, phán đoán là Thận Tỳ lưỡng hư, hiện tượng dương suy yếu mà âm ngưng trệ. Dùng pháp kiện Tỳ ôn Thận, dùng thuốc:

Lộ Đảng Sâm潞党参[1] 18g, Sinh Hoàng Kỳ生黄芪 20g, sao Bạch Truật炒白术 18g, sao Sơn Dược 炒山药30g, Quảng Mộc Hương 广木香6g, Sa Nhân 砂仁3g, Tiên Linh Tỳ[2]仙灵脾 15g, Bổ Cốt chi补骨脂 [3]10g, Xích Thạch Chi赤石脂[4] 20g, thục Phụ Tử熟附子 5g, Cam Thảo甘草 6g.

Dùng hết 5 thang, số lần đi ngoài giảm, điều trị điều chỉnh thêm nửa tháng thì khỏi.

2. Hư thực thác tạp, quý ở chỗ bổ tả cùng lúc

Bệnh nhân tiêu chẩy mạn tính, chữa nhiều lần không khỏi, triền miên không dứt, biện chứng thường thường luôn có một mặt là Tỳ hư khí nhược, cũng là có sự tồn tại của thấp nhiệt lưu trệ, hiện lên hiện tượng đặc trưng của hư thực thác tạp, cho nên khi điều trị, cần phải bổ tỳ liễm âm, lại cần thanh hóa thấp trọc mới có thể đạt được hiệu quả điều trị, lập thang dựa trên Tiên Cát thang mà điều chỉnh, chủ trị loại hình tiêu chẩy mạn Tỳ hư thấp nhiệt. Thích hợp với người có các chứng tiêu chẩy lâu ngày phân loãng, có lẫn dính kết, ăn không tiêu sôi bụng, bụng trướng, không lực, rêu nhớt đầu lưỡi đỏ, mạch tượng tế nhu… bao gồm cả người bị viêm đại tràng dị ứng, loét đại tràng, đợt cấp tái phát trên lị mạn tính. Phương tễ gồm có:

Tiên Hạc Thảo仙鹤草[5] 30g, Cát Cánh桔梗 6g, Ô Mai乌梅 6g, Bạch Cẩn hoa白槿花 [6]10g, sao Bạch Truật炒白术 10g, Quảng Mộc Hương广木香 6g, Bạch Thược 白芍10g, Bạch Đầu Ông 白头翁10g, sao Binh Lang炒槟榔 2g, Cam thảo甘草 5g.

Trong đó, Tiên Hạc thảo ngoài có tác dụng chỉ huyết, còn có tác dụng trị lị, làm cường tráng. “Điền Nam bản thảo滇南本草” có chép “trị xích bạch lị”. Kinh nghiệm bản thân tôi thấy thuốc này không chỉ điều trị lị, mà còn có thể thúc đẩy sự hồi phục chức năng hấp thu của ruột, mà đối với tiết tả mạn tính loại Tỳ hư thấp nhiệt có hiệu quả nhất, có thể coi như một thuốc mà hiệu nghiệm. Cát cánh trong “Biệt lục别录” có chép “lợi ngũ tạng tràng vị, bổ huyết khí… ôn trung tiêu cốc” ; “Đại Minh大明” chép “dưỡng huyết bài nùng”; “Bản thảo bị yếu本草备要” có chép trị “đi lị bụng đau”. Tả lâu ngày dùng thuốc bài nùng để trị lị, phàm là đi tiêu chảy kèm theo kết dính, dùng Cát Cánh lại càng hiệu nghiệm. Bạch Truật, Mộc Hược kiện Tỳ điều khí; Bạch Thược, Ô Mai, Cam Thảo chua ngọt liễm âm, đều trị trường hợp tiết tả kèm theo đau bụng, trường hợp bụng đau nhiều có thể tăng lượng Bạch Thược, Cam Thảo, Bạch Thược có thể dùng tới 15 – 30g. Bạch Cẩn hoa cam, bình, thanh nhiệt lợi thấp, mát huyết, đối với hạ tiêu thấp nhiệt có thể nhanh chóng cải thiện triệu chứng. Binh Lang vốn là thuốc tán kết phá trệ, tẩy tràng trừ trùng, lượng nhỏ thì có tác dụng hành khí tiêu chướng. Đối với người mà tiết tả có bụng chướng tương đối nhiều, Cầm, Liên nên dùng ít, hoặc không dùng. Vì vị khổ hàn, dùng nhiều thì thương Tỳ, tổn thương Dương, hao âm, tiêu chẩy lâu ngày Tỳ hư nhiều nên chú ý. Bạch Đầu Ông phối với Bạch cẩn hoa, có thể tăng cường tác dụng thanh tiết thấp nhiệt, mà lại không gây hại. Tỳ hư thấp nhiệt tiêu chẩy lâu ngày, xử lý không đúng, luôn luôn được cái này mà mất cái kia. Thuốc vị ngọt kiện tỳ, dùng nhiều sẽ giúp thấp sinh nhiệt; khổ hàn có thuộc tính táo thấp, dùng mạnh thì thương dương tổn âm. Tiên Cát Thang bổ tả cùng lúc, có kiện Tỳ liễm âm, có tác dụng thanh tiết thấp nhiệt, đối với chứng hư thực thác tạp, không làm bít tắc giữ lại tà, mà cũng không có tác dụng tệ hại là công phá chính khí. Phương này Cát Cánh phối với Binh Lang, thăng thanh giáng trọc; Binh Lang phối với Ô Mai thán, vừa thông vừa giữ; Mộc Hương phối với Bạch Thược, khí dinh cùng lúc điều chỉnh. Trong phương không có Sâm, Kỳ tuấn bổ, không có Cầm Liên khổ giáng, không có Tiêu, Hoàng mãnh liệt, vì ruột gập lại lượn vòng, lị lâu ngày chính hư tà mạnh, thấp nhiệt lưu lại, ngay một lúc không thể loại bỏ hết, muốn bổ thì lại bị tà cản lại, muốn công hạ thì tổn thương chính khí, cho nên tiêu bổ phải cùng lúc, trong bổ bao hàm thông, ăn khớp với bệnh cơ.  Tháng 3 năm 1989 tôi từng chữa cho bệnh nhân họ Cát bị loét đại tràng, bị bệnh đã 2 năm, người gầy, nhìn mệt mỏi, ăn không tiêu bụng chướng, có lúc đi ngoài lỏng 1 ngày hơn 10 lần, kèm theo dính kết, thậm chí đến mức không thể cầm được, mạch tế, lưỡi nhớt, đầu lưỡi đỏ. Chứng thuộc về Tỳ hư không vận hóa, thấp nhiệt đình lưu, cần phải kiện Tỳ, vận trung tiêu, thẩm hóa thấp nhiệt. Phương dùng: Tiên Cát Thang bỏ Binh Lang, dùng 4 thang, đại tiện mềm nát, mỗi ngày 1 lần, kết dính không còn, tinh thần rõ ràng chuyển biến tốt. Uống 20 thang, đại tiện bình thường, sau khi sửa thành dùng Kiện Tỳ giúp vận hóa, bệnh đều đỡ, soi đường ruột, triệu chứng viêm, loét đã hết.

3. Từ chứng tìm nguyên nhân, phải chú ý khám cẩn thận, biện chứng rõ ràng

Điều trị tiêu chẩy mạn, phải chú ý đến thể trạng của bệnh nhân, sở thích hàng ngày, các bệnh cũ, cho đến ăn uống, nơi ở, dị ứng thuốc, kết hợp với tính chất và nặng nhẹ của tiêu chẩy mạn để luận trị, nhấn mạnh đến lấy người làm gốc, phân tích kỹ chứng để tìm nguyên nhân. Người mà cơ thể béo tốt, thường gặp khí nhược thấp trệ, bắt buộc phải chú ý làm cho khí hóa được thông suốt. Người mà hình thể gầy còm, thường kèm theo âm dịch âm thầm bị hao tổn, cần phải chú ý sinh hóa khí âm. Phàm là người tiêu chẩy lâu ngày, không thể đều quy cho vì Tỳ Thận hư hàn để luận trị, trên lâm sàng, những yếu tố không phải do hư chứng gây ra tiết tả, nhiều lần thấy không tươi tỉnh, như tình chí không thuận, tiết tả do Can Mộc thắng Thổ; Thủy Thổ không hòa hợp, tiết tả do chức năng Trường Vị rối loạn; dị ứng protein trong đồ ăn (thuốc) gây tiết tả…. Tất cả đều cần phải tìm hiểu biện chứng kỹ lưỡng, không được coi nhẹ. Như tháng 9 năm 1987, tôi khám một trường hợp họ Lý bị tiêu chẩy, là người Phúc Kiến, vì công việc mà điều tới Nam Thông 4 tháng, tiêu chẩy gián đoạn vài ngày, ruột kêu òng ọc, không có cảm giác thèm ăn, đại tiện lỏng loãng, mệt mỏi không có lực, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch tế, lúc khám đã từng dùng Sâm Linh Bạch Truật tán, Phụ Tử lý trung thang, không thấy hiệu nghiệm. Hỏi về bệnh sử, là do Thủy Thổ không điều hòa mà gây bệnh, dùng Tứ quân gia Từ Trường Khanh 徐长卿[7], chích Ô Mai nhục炙乌梅肉, Tuyên Mộc Qua宣木瓜, Quảng Mộc Hương广木香, Tô Diệp Căn苏叶根, 4 thang thì khỏi.

Chú giải: 

[1] 潞党参/ Lộ Đảng Sâm: Một loại Đảng Sâm, Lộ là chỉ địa phương trồng/ thu hái Đảng Sâm, sản xuât ở vùng Sơn Tây Trường Trị – Trung Quốc (thời Tần gọi là Thượng Đảng quận, thời Tùy gọi là Lộ Châu) .

[2] 仙灵脾/ Tiên Linh Tỳ : Tên gọi khác là Dâm Dương Hoắc

[3] Bổ cốt chỉ: tên khác của Phá Cố Chỉ

[4] Xích Thạch Chỉ: một loại khoáng chất [Al4(S14010)(0H)8·4H2O], vị ngọt, chua, chát, tính ấm.

[5] 仙鹤草/ Tiên Hạc Thảo: còn gọi là Long Nha Thảo, tên khoa học Agrimonia pilosa Ledeb, vị đắng, tính mát, quy Vị, Can, Tỳ, Phế, Đại tràng kinh

[6] 白槿花/ Bạch Cẩn hoa: hoa dâm bụt trắng

[7] 徐长卿/ Từ Trường Khanh: Tên khoa học Cynanchum paniculatum (Bunge) Kitagawa, tên tiếng Anh RADIX CYNANCHI PANICULATI. Vùng phân bố: Liêu Ninh, Nội Mông, Hà Bắc, hà Nam, Thiểm Tây, Cam Túc, Tứ Xuyên, Quý Châu, Vân Nam, Sơn Đông, An Huy, Giang Tô, Triết Giang, Giang Tây, Hồ Bắc, Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây… Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên cũng có vùng phân bố. Vị cay, ấm, quy kinh Can, Vị. Phạm vi sử dụng tương đối rộng.

Dịch: Trần Anh

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s