Writing for Publication in Nursing and Healthcare

Trích từ sách: Writing for publication in nursing and healthcare : getting it right.   Edited by Karen Holland, Roger Watson. A John Wiley & Sons, Ltd., Publication, 2012.  

Link sách: http://www.fshare.vn/file/Q59M12UTAQLF

CHƯƠNG 2:

NHỮNG ĐIỀU CƠ BẢN ĐỂ VIẾT BÀI TẠP CHÍ VÀ CÁC BƯỚC TỚI THÀNH CÔNG: HÃY BẮT ĐẦU

GIỚI THIỆU

Chương này bao gồm các đặc điểm cần thiết của việc viết một bài báo để công bố nghiên cứu, liệt kê ra một số những rào chắn mà nhiều người gặp phải khi viết và cách làm thế nào để vượt qua chúng. Bởi vì chương này tập trung vào viết một bài báo cơ bản, nên một vài nguyên tắc phù hợp với các dạng viết khác ví dụ như chương sách và tổng hợp, sẽ được bao gồm trong những chương tiếp theo.

CÁC CHƯỚNG NGẠI KHI VIẾT

Tôi dậy một phần của khóa học online về thông tin và sự liên lạc trong chăm sóc sức khỏe, có một vài phần về viết một bài báo để xuất bản. Một trong những bài tập đầu tiên tôi đặt ra cho sinh viên – hầu hết là những nhà lâm sàng bận rộn mà muốn viết bài báo – đó là liệt kê ra những chướng ngại khi phải viết bài và sau đó chia sẻ với nhóm online, và với tôi. Bản danh sách cứ dài thêm ra khi tôi yêu cầu làm bài tập này vì mọi người không ngừng tìm được các lý do để không phải viết, mặc dù họ mong muốn làm nó. Tuy nhiên, trong các bản danh sách và ở những cụm từ phổ biến luôn ở trong top đầu gồm có:

– Thiếu thời gian (lack of time)

– Thiếu khả năng (lack of ability)

– Không hiểu về quy trình xuất bản ( not understanding the publishing process)

– Sợ bị phê bình (fear of criticism)

– Sợ bị từ chối (fear of rejection)

(1) Thiếu thời gian

Đây luôn luôn là lý do hàng đầu mọi người nhận thấy như là chướng ngại lớn nhất khi viết bài. Đương nhiên, viết lách tiêu tốn thời gian và thời gian trở nên khan hiếm vì chúng ta tiến bộ thông qua một cuộc sống luôn làm việc. Có vô số điều kiện có thể giúp cho việc viết lách của chúng ta – đầu tiên là từ ngữ – sự tiện nghi và phát triển của máy tính cá nhân – thay vào đó cũng tạo ra cho chúng ta vô số sao lãng: email, lướt web, Facebook và Twitter. Chúng ta rất hiếm khi có một khoảng thời gian mà chúng ta nghĩ rằng nó dành riêng cho việc viết (nhưng nhiều hơn thời gian sau đó ), và một điều quan trọng, đó là không ai sẽ cho chúng ta thời gian. Vì vậy, khi đặt vào hoàn cảnh chúng ta phải viết về một cái gì đó, ví dụ tất cả những trải nghiệm và thâm niên của mình, chúng ta thường thiếu thời gian để viết về nó. Tuy nhiên, có một vài người viết thường xuyên và phong phú, và dường như họ rõ ràng không có nhiều thời gian hơn những người khác. Chúng ta sẽ tự hỏi – họ làm điều đó như thế nào? Dĩ nhiên, không ai có một câu trả lời đơn giản cho câu hỏi này như chúng ta sẽ thấy xuyên suốt quyển sách.

(2) Thiếu khả năng

Đây là nỗi sợ hãi chủ yếu được xem như một chướng ngại khi viết. Gốc rễ của nỗi sợ này xuất phát từ thiếu hụt về kinh nghiệm và cơ hội, và cũng vậy, thật đáng buồn, từ những trải nghiệm tồi tệ của bạn trong những cố gắng từ sớm đối với viết lách đã bị bỏ qua bởi giáo viên, bài giảng, bạn bè và đồng nghiệp. Những người mà có nỗi sợ này sẽ làm những việc cần thiết một cách tối thiểu đủ đề “vượt qua” việc học ở trường, cao đẳng hay đại học, và sẽ rất vui mừng bỏ được viết văn ở phía sau lưng, cho tới khi họ ở vào vị trí mà viết lách là cần thiết, hoặc họ lại phát triển mong muốn được viết lách. Tôi hy vọng là, trong những trang này, những ai mà thấy sợ hãi sẽ tìm được ý nghĩa để vượt qua nó, và chống lại được những điều thường nghe và những lời đánh giá phê bình cần thiết đối với công việc của họ, đó là một phần rất quan trọng của viết lách. Rõ ràng, thiếu hụt kinh nghiệm là một chướng ngại của viết lách, nhưng những ai viết thường xuyên vẫn thiếu kinh nghiệm ở một vài điểm, và nó là mục tiêu hướng đến của chương này, và thực sự là cả cuốn sách, đó là viết lưu loát. Trong chương này, tôi hy vọng có thể chia sẻ cách mà tôi đã làm. Tuy nhiên, không phải tất cả những gì tôi nói đều có thể dùng được cho bạn và không phải mọi thứ đều có tác dụng với bạn, nhưng dựa trên những nguyên tắc rõ ràng, nó có thể tốt cho việc làm thế nào bạn có thể bắt đầu cố gắng.

(3) Không nắm rõ quy trình xuất bản

Giống như mọi quy trình không quen thuộc, quy trình xuất bản có một vài thủ tục và thuật ngữ riêng (thứ tiếng riêng, nếu bạn thích gọi thế). Để có một vài thứ công bố một cách hợp lệ, bạn phải có một nhà xuất bản, và họ đặt bạn một một mối liên hệ với nhiều người trong phạm vi rộng lớn và các vai trò bạn không bao giờ gặp mặt: biên tập, tổng biên tập và biên tập viên sản xuất, chỉ là vài ví dụ, và có thể tiếp tục tìm hiểu ở Chương 11. Bạn sẽ gặp mặt những thực thể như bản thảo, các bằng chứng, đồng ý về tác quyền và một vài thứ liên quan mới được phát triển như xác định danh tính điện tử. Xuất bản là một ngành công nghiệp, trong khi nhà xuất bản tập trung vào giúp mọi người xuất bản và làm công việc xác thực sự tham gia trong công việc này, các công ty xuất bản phải có lợi nhuận, và toàn bộ quy trình từ khi đệ trình tới sản phẩm đều được kiểm soát chặt chẽ và lặp lại ở các công ty xuất bản khác nhau.

Tìm hiểu về quá trình xuất bản

Tôi không gợi ý cho bạn cố ý thật cố gắng để học về công việc ngành xuất bản và những người làm việc trong đó; hầu hết sự liên lạc của bạn sẽ là với một biên tập và phần lớn bạn sẽ chỉ cần lo lắng cho bản thảo[manuscript] và bản thảo cuối cùng [proof] của bạn (phiên bản bài báo mà gần như sản phẩm cuối cùng nhưng vẫn cần chỉnh sửa). Bạn sẽ học được khía cạnh khác của xuất bản vì bạn sẽ có nhiều kinh nghiệm viết hơn để xuất bản, và mục tiêu của chương này là để giúp bạn thu được cái nhìn tổng quan hơn về nó.

Viết bài để đăng báo ở những thứ được gọi là “tạp chí khoa học” là một quy trình kỹ thuật là chủ yếu. Một cách tổng thể, nó không giống như việc viết lách sáng tạo, ví dụ như viết một câu chuyện tạp chí, mặc dù viết về kỹ thuật tốt và viết lách có sức sáng tạo tốt cũng có một số đặc điểm chung, Chủ yếu, bạn nên biết bạn nên viết về cái gì, ví dụ về kết quả của một nghiên cứu, một ý kiến về thứ gì đó khiến bạn hứng thú hoặc kích thích bạn hoặc thứ gì đó bạn đã từng hỏi vì bạn không có chuyên môn.

Kinh nghiệm chỉ có khi làm một thứ gì đó và làm một thứ gì đó chỉ xuất hiện khi bạn bắt đầu. Vì vậy, khi đối mặt với những chướng ngại của việc viết đã nhắc đến ở trên, mục đích của chương này là giúp bạn có thể bắt đầu và vượt qua những chướng ngại này.

 

KHỞI ĐỘNG

Khởi động cốt yếu vẫn phụ thuộc vào động cơ của bạn để viết, và những động cơ này bao gồm động lực của tự bản thân, trách nhiệm phải viết (e.g. như tìm kiếm một ưu đãi về nghiên cứu) hoặc sự đòi hỏi của giới hạn thời gian. Đó là điều không thể để nói rằng cái gì là động lực tốt nhất, bởi vì mỗi người là khác nhau và mỗi người có cách phản ứng khác nhau đối với các động cơ kia. Tuy nhiên, dù cho nguyên nhân là gì, thông thường sẽ có một giai đoạn để điều chỉnh các nhiệm vụ cho việc viết, và nó thường bao gồm việc nhìn chằm chằm vào màn hình máy tính trống trơn hoặc một số người thấy chúng ta nhìn vào khoảng không.

Khi bạn khởi động để viết những gì bạn có, hãy làm nó một cách hiệu quả, vượt qua chướng ngại chủ yếu: thiếu hụt thời gian. Nhưng làm thế nào để vượt qua? Rõ ràng bạn phải xếp riêng một khoảng thời gian hoặc có thể là “mượn” hoặc “đánh cắp” thời gian từ một vài hoạt động khác. Nhưng bao nhiêu thời gian và bao nhiêu quy trình bạn cần làm?

Một lỗi thông thường, trong kinh nghiệm của tôi, đó là sắp xếp riêng một ngày, một tuần hoặc một tháng cho việc viết. Rất ít người có thể chấp nhận được công việc viết hơn một giờ hoặc một khoảng thời gian nhất định, kể cả những người viết chuyên nghiệp cũng rất ít khi viết cả ngày. Vì vậy, sắp xếp một khoảng thời gian riêng quá dài cho việc viết thường là phí phạm thời gian – viết là một công việc khó khăn nhưng bạn không cần một sự nghỉ ngơi sau khi làm nó; điều mà bạn cần đó là thay đổi và dễ dàng nhận thấy là làm cho nó ngắn lại, đều đặn và thường xuyên đối với công việc viết vào ngày làm việc bình thường của bạn. Có thể bạn thấy bạn không có thời gian nào trong ngày làm việc bình thường; tuy nhiên, bạn có chắc rằng bạn làm việc vào tất cả mọi phút của tất cả mọi giờ khi ở nơi làm việc? Bạn nghĩ thế nào về nửa giờ trước khi mọi người tới và trước khi điện thoại bắt đầu reo? Bạn nghĩ thế nào về nửa giờ cuối của ngày hoặc chỉ là nửa giờ còn thừa khi làm gì đó để dành cho viết? Tương tự như vậy khi ở nhà – chúng ta luôn luôn có công việc cá nhân bận rộn nhưng có những khoảng thời gian rỗi trước khi đi làm, sau khi về nhà từ chỗ làm hoặc trước khi đi ngủ. Tôi không gợi ý tất cả những lựa chọn đó hoặc lựa chọn khác một cách tỷ mỷ, nó chỉ đơn thuần là những gợi ý. Đâu tiên, có vẻ như bạn đã có sự tiến bộ nhỏ, nhưng đây là nơi cho “4 quy tắc” của việc viết ứng dụng. Chúng sẽ là “cởi nút thắt” cho bạn về thứ tự để chỉ đường cho quá trình “khởi động”.

2.1 “4 quy tắc” cho việc viết

4 quy tắc của việc viết được phát biểu ở đây là của tôi, mặc dù tôi không đòi hỏi là người đầu tiên nghĩ ra chúng, mà cũng không đòi hỏi quyền tác giả. Một vài tác giả sẽ diễn giải cách mà họ viết trong một series những gợi ý hoặc quy tắc và một vài nói những điều tương tự như: tìm kiếm nhanh trên Google đối với “ the four rules of writing” sẽ xuất hiện một series của “hits”.  Tôi chỉ công nhận đem kết hợp với nhau 4 điểm đặc biệt này và gắn nhãn cho chúng. Tôi miêu tả chúng như những “quy tắc” mà không mong muốn xuất hiện như những giáo điều; Chúng không phải tất cả những gì bạn cần để viết nhưng tôi gọi chúng là “quy tắc” bởi vì đơn giản tôi không thể hiểu bằng cách nào, khi áp dụng chúng như một sách hướng dẫn nhỏ nhất, bạn chắc chắn có thể viết ra một cái gì đó.

Box 2.1 : 4 quy tắc cho bài việc viết

(1) Đọc các hướng dẫn ( đọc chương 5)

(2) Đặt ra các mục tiêu và đếm số từ

(3) Tìm kiếm sự phê bình

(4) Sửa chữa những chỗ bị từ chỗi xem như là sự bắt đầu của sự chấp nhận tiếp theo

 

Xin hãy chú ý rằng chúng không phải là quy tắc để viết tốt – nhưng mặc dù bạn viết một vài thứ, bạn không thể viết tốt; những quy tắc này – đặc biệt thứ nhất và thứ hai – sẽ giúp bạn điền được một vài trang và có thể bắt đầu khởi động tạo cho cho nó “hình thù”. Mỗi lần bạn viết về thứ gì đó, bạn có thể cải thiện công việc, và chúng ta sẽ tìm hiều làm nó như thế nào. “4 quy tắc” của viết được giới thiệu trong Box 2.1

(1) Quy tắc số 1: Đọc các hướng dẫn

Các hướng dẫn cho tác giả của các tạp chí thường dễ dàng tìm được ở trên các website của các nhà xuất bản trên mạng internet và bạn phải để ý đến những thứ liên quan đến vấn đề độ dài cho phép của mỗi bài báo, các cách trình bày thông thường và các quy ước cũng cần phải được chú ý. Một vài ví dụ về các hướng dẫn phổ biến đối với tạp chí về Y tá được cung cấp trong Box 2.2. Các khía cạnh đặc biệt của các hướng dẫn sẽ được nghiên cứu kỹ hơn ở chương 5.

(2) Đặt mục tiêu và đếm số từ

Không có ngoại lệ, khi tôi hỏi những người viết bài tốt khác về vấn đề viết bài hoặc nghe những người viết bài khác trình bài về kỹ năng viết, họ đều giới thiệu rằng đặt mục tiêu là một bước cốt yếu. Một vài người viết chuyên nghiệp, như các nhà văn viết tiểu thuyết thông thường, họ có một mục tiêu to lớn – hàng nghìn chữ – nhưng đó là những người rất giầu kinh nghiệm trong việc viết lách, họ là những người có thể dành toàn bộ thời gian và phu thuộc vào việc viết lách để kiếm sống. Họ có thể viết rất nhanh và họ sẽ tìm hiểu kỹ càng về những chủ đề họ viết, và đắm chìm hoàn toàn cuộc sống của họ vào đó. Hầu hết chúng ta không “đắm chìm” vào công việc viết của chúng ta theo cách đó; trong khi có thể chúng ta cũng bận tâm về nó, chúng ta có những thứ khác như công việc lâm sàng, dậy học, nghiên cứu và gặp gỡ để lấp đầy ngày làm việc của chúng ta. Vì thế, ứng dụng những ý tưởng gợi ý ở trên về việc “tranh thủ” một khoảng thời gian ngắn để viết, chúng ta nên đặt ra một mục tiêu phù hợp ứng với bản thân và có thể đạt được.

Mục tiêu có tính chất cá nhân và gợi ý của tôi là bạn hãy làm cho nó trở nên hợp lý để bạn có thể viết được gì đó, nhưng tổng lượng không nên quá lớn hoặc bạn không thể đạt được. Mục tiêu riêng của tôi là 500 chữ mỗi lần tôi ngồi xuống để viết, thỉnh thoảng có một vài ngày có khoảng thời gian dài hơn nhưng, nhưng những khoảng gián đoạn đều đều và những khoảng thời gian dài để viết là rất khó, cho nên tốt nhất là có một mục tiêu cho mỗi lần bạn có thời gian để viết. Vài chương trong cuốn sách sẽ giúp bạn tập trung vào giới hạn từ và một vài cách để phân bổ các hoạt động.

Box 2.2: Link đến các hướng dẫn (cập nhật đến 10 – 7- 2011)

International Journal of Nursing Studies: http://www.elsevier.com/wps/

find/journaldescription.cws_home/266/authorinstructions

Journal of Advanced Nursing: http://onlinelibrary.wiley.com/journal/

10.1111/(ISSN)1365-2648/homepage/ForAuthors.html

Journal of Clinical Nursing: http://onlinelibrary.wiley.com/journal/

10.1111/(ISSN)1365-2702/homepage/ForAuthors.html

Nurse Education in Practice: http://www.elsevier.com/wps/find/journal

description.cws_home/623062/authorinstructions

Nurse Education Today: http://www.elsevier.com/wps/find/journalde

scription.cws_home/623061/authorinstructions

Khi bạn đã đạt được mục tiêu … Hãy dừng lại!

Đó cũng là những gì một vài người hay viết nói, và ý tưởng của mục tiêu mà bạn đặt ra phải bất động, tựa như nó là có thật: không cần thiết phải vượt qua chúng khi bạn đã đạt được chúng. Nguy hiểm là, ngay cả khi bạn đang làm rất tốt công việc viết lách, thì bạn sẽ cố gắng để tiến xa hơn vượt qua mục tiêu mà bạn đặt ra và thất bại trong việc đạt được nó; con đường này sẽ khiến cho bạn kết thúc trong sự thất vọng. Thỉnh thoảng, bạn nghĩ rằng bạn có thể tiếp tục nhưng hoặc là bạn tuột mất ý tưởng hoặc rất khó khăn trong việc diễn tả chúng, trong trường hợp này, điều cần thiết là dừng lại và làm việc gì đó khác.

Box 2.3 Viết ra các gạch đầu dòng

– Đạt được mục tiêu và dừng

– Đếm số từ

– Làm thế nào để điền đầy trang trắng

Ví dụ, khi tôi đang viết chương này, tôi hoàn thành được hết phần trên cho đến đề mục ở trên và cảm thấy tôi có thể tiếp tục. Phần trên kết thúc khi được khoảng 1500 từ, tương ứng với 3 phiên làm việc. Trên thực tế, tôi đã không thể tiếp tục vì tôi mệt và không có thời gian; vì thế tôi áp dụng một kỹ năng có ích khác. Tôi viết một vài gạch đầu dòng các ý tưởng chính cho phần mà bạn đang đọc ở đoạn cuối của chương trên mà tôi đã viết. Tuy nhiên, bạn cũng có thể sử dụng một cuốn sổ nhỏ cho việc này và bạn có thể tìm thấy một vài thứ có ích để đem theo bên mình nếu bạn có điều gì đó quan trọng cần viết. Tôi hiểu ra rằng công việc này sẽ hoàn thành tốt nếu như bạn không bị tuột mất ý tưởng, và sẽ tạo ra một vài bước tiến trong chương tiếp theo. Điều quan trọng nhất, đó là nó cung cấp cho bạn “dòng chảy” để tiếp tục khi bạn quay trở lại với phần tiếp theo khi viết; tất cả những gì bạn phải làm là “xẻ thịt” hoặc triển khai những gạch đầu dòng chính và đôi lúc nó cung cấp cho bạn 500 từ tiếp theo và quy trình để tiếp tục.

Đếm từ

Tôi luôn luôn đếm số từ khi tôi viết và, dĩ nhiên nó thật dễ dàng với công cụ đếm từ trong các phần mềm soạn thảo. Có 2 lý do khiến cho đếm từ là quan trọng: tất cả các tài liệu đều phải đảm bảo trong quy định về số từ (thông thường 5000 từ cho một bài báo cơ bản); vì thế, bạn cần phải hiểu làm thế nào để tiến hành. Đếm từ cũng là để khuyến khích, mỗi lần bạn viết thêm một câu khác thì bạn đã làm tăng số lượng từ và bạn có thể theo dõi tiến trình này một cách dễ dàng. Cùng với sự tăng lên của số từ, đếm số từ rõ ràng làm tăng sức mạnh cho sự cố gắng của bạn; đếm số từ cũng nói cho bạn biết khi nào thì dừng.

Dĩ nhiên, đôi lúc các ý tưởng của bạn không trải đầy ra trên màn hình; chúng ta rơi vào bế tắc và đó là thứ thúc giục chúng ta làm cho mục tiêu ngắn lại. Đừng để bị nghe theo lời xúi giục đó. Lời khuyên của tôi là hãy nghĩ về phía trước giống như lời giải thích trong chương tiếp theo. Cho các bạn biết một thông tin, tôi đạt được 2005 từ cho đến câu cuối cùng và cũng lại mất đi các ý tưởng – lại một lần nữa – tôi để lại các gạch đầu dòng, tôi viết cho các bạn các thông tin trong box 2.3 và 2.4 và bạn sẽ nhìn thấy tôi sử dụng nó cho phần tiếp theo. Trước khi đọc tiếp, bạn có thể sẽ muốn thử bài tập trong box 2.5.

Box 2.4 Nhiều gạch đầu dòng hơn

– Đừng để rơi vào bế tắc – hãy làm nó ở phần tiếp theo

– Viết các gạch đầu dòng đầu tiên

– Đừng lo lắng quá nhiều về việc bạn đang viết cái gì

– Không bao giờ viết trên giấy, chỉ viết trên màn hình

 

Box 2.5 Ngay bây giờ hãy viết 500 từ

Hãy chọn một chủ để mà bạn hiểu một chút về nó; ví dụ, từ việc thực hành lâm sàng của bản thân hoặc việc dậy học mà không có sự tạm dừng, viết 500 từ về nó.

 Làm thế nào để điền đầy trang trắng 

Kẻ thù của người viết là một trang trống trơn – hay một màn hình tối thui trong trường hợp dùng máy tính cá nhân. Bí mật để có thể điền đầy một trang là đừng lo lắng quá nhiều về những gì bạn viết lúc đó. Hãy nhớ rằng, bạn có thể sửa lại một trang viết tồi nhưng bạn không thể sửa lại một trang trắng trơn. Vì thế, bất cứ ý tưởng nào liên quan đến chủ đề bạn đang quan tâm xuất hiện trong đầu bạn, hãy lấy nó ra và gõ bất cứ lúc nào bạn có thể. Thỉnh thoảng chúng ta bế tắc, và chúng ta không biết viết gì tiếp theo. Lời khuyên của tôi ở đây là hãy chuyển nó tới phần tiếp theo, hoặc nếu bài viết yêu cầu, sau đấy quay lại một phần và kiểm tra xem có thứ gì đó cần thiết phải thêm vào để làm tăng thêm số từ.

Nó rất có ích, và đặc biệt phù hợp với viết các bài báo nghiên cứu, nếu bạn gõ tất cả các đề mục bạn sẽ dùng trong bản thảo và đặt mỗi thứ ở một trang và tách rời chúng bởi một cách trang, và in đậm chúng và viết hoa để có thể tìm chúng rõ ràng. Một bộ đặc trưng của các đề mục được liệt kê ở Box 2.6. Tuy nhiên, bạn nên chú ý rằng các tạp chí có hơi khác nhau về đề mục tùy theo yêu cầu của họ, và vì thế, điều rất cần thiết là bạn phải kiểm tra các hướng dẫn riêng của tạp chí mà bạn muốn đăng bài. Trước khi tiến hành, bạn có thể sẽ muốn thử bài tập trong Box 2.7.

Box 2.6 Các đề mục đặc trưng của bản thảo

Title (đề mục)

Abstract (tóm tắt)

Introduction ( giới thiệu )

Background (cơ sở để tiến hành nghiên cứu)

Methods (phương pháp nghiên cứu)

Reusult (kết quả)

Discussion ( thảo luận)

 

Box 2.7 Bài tập: tạo một file và đề mục

Tại sao không tạo một file word ngay bây giờ và lưu nó lại với một nhãn dành riêng,  ví dụ “ Bài xuất bản cuối cùng [Lastest Publication]”, và sau đó chèn vào một bộ các đề mục, như gợi ý trong ô trên, và sau đó bạn sẽ bắt đầu bản thảo đầu tiên của mình.

Một vài tạp chí quy định các đề mục cho nên bạn không phỉa nghĩ về nó, và hãy nhớ rằng, nó không cần thiết hoặc khôn ngoan khi khởi động ngay từ cái đầu tiên và làm việc theo thứ tự như trên từ đầu đến cuối. Ví dụ, bạn có thể có một vài ý tưởng cho phần tóm tắt và bạn có thể gõ ra, nhưng nó sẽ tốt hơn nếu bạn để phần tóm tắt cho đến cuối cùng – sau khi bạn hiểu rằng bạn đang tóm tắt cái gì. Phần tóm tắt cũng có thể có tiêu đề nhỏ mà các tạp chí cung cấp cho bạn; nếu không, đó là một ý tưởng tốt cho việc sử dụng đề mục nhỏ cho phần tóm tắt –  chúng sẽ luôn luôn bị loại bỏ trước khi được chấp nhận. Thường thường, nó sẽ hình thành bộ xương cho bài báo của bạn, với những đề mục tạm dẫn đường cho bạn, nó đủ cho một lần ngồi viết. Khá hơn  là cố gắng điền đầy trang trắng ngay lập tức, có thể khôn ngoan hơn khi để nó lại cho phiên làm việc tiếp theo và sau đó bạn có thể bắt đầu một cách nghiêm túc. Tôi sẽ trở lại vấn đề cái gì nên xuất hiện phía dưới mỗi tiêu đề trên trong chương 5.

Mỗi khi bạn khởi động, khi bạn bế tắc, vì chắc chắn bạn sẽ như vậy ở một điểm nào đó, hãy nhẩy sang một phần khác và viết những thứ liên quan đến phần đó. Nhớ rằng hãy đếm số từ và bạn sẽ thấy bạn đang tiến về phía trước, và dĩ nhiên, hãy dừng lại khi bạn đạt được mục tiêu.  Liên quan đến vấn đề tạo tiến độ cho việc viết, có một điều quan trọng mà bạn học được, nếu bạn chưa làm theo thói quen này, đó là việc viết chính xác trong một phần mềm đếm số từ.

Một vài “đồng hồ bấm giờ’, hoặc những người vẫn chưa chuyển đổi sang sử dụng công nghệ, những tác giả có uy tín sẽ không đồng ý, và đôi lúc cũng làm cho tôi thấy mình sai lầm về nó.  Nhưng hãy nhìn vào lợi ích của nó: nó chỉ là quá trình gõ phím đơn thuần, và bạn không tìm được thời gian để gõ chép lại công việc của mình vào máy tính (gõ vào từ một bản copy của bản viết tay). Liên quan đến điểm cuối cùng, bạn có thể không bao giờ làm được hoặc tìm được thời gian, và nếu bạn cố gắng làm nó, gõ bản sao chép là một công việc khó khăn (Tôi vẫn chưa hoàn thành bản chép tay của cuốn nhật ký mà tôi giữ khi còn phục vụ trong First Gulf War – đó là năm 1990). Bạn có thể đếm số từ và bắt đầu biên tập nó trên màn hình và bạn có bản nháp thường trực; nhưng đừng trở nên khờ khạo về nó, hãy làm một bản sao lưu của tất cả công việc của bạn. Nó có thể thông qua việc trực tiếp sao lưu công việc của bạn lên một ổ cứng kết nối với máy tính, hoặc vào một USB. Hãy chắc chắn rằng tất cả các file của bạn được đính nhãn chính xác trong hệ thống lưu trữ của bạn, và mỗi lần bạn lưu lại gì đó phiên bản thực và sao lưu! Một vài người trong chúng ta đã có dịp đánh vật với việc tìm kiếm phiên bản chính xác của những gì chúng ta đã viết bởi vì không để ý đến chúng, gây ra những sự ức chế khi bạn tưởng tượng bạn mất tất cả những gì bạn đã viết ngày hôm trước, chỉ để tìm thứ bạn đã gắn nhãn nó như một thứ gì khác thay vào đó. Khởi động cho việc viết bao gồm nhiều hơn việc “nghĩ” dự định; nó cũng bao gồm nhiều cách thức khác nhau trong công việc có liên quan đến viết, hoặc trong mối liên quan với quy trình làm việc với máy tính.

Tôi đang nói rằng bạn không bao giờ nên viết bất cứ cái gì vào một bản thảo hay một mảnh giấy; ngược lại, tôi tìm một quyển sổ nhỏ hoặc một quyển tạp chí mà có thể dễ dàng đút nhanh vào túi du lịch hay cặp làm việc, rất hữu ích cho việc ghi chú lại các ý tưởng khi chúng đến với tôi trên tầu và máy bay, hay khi máy tính xác tay của tôi không sẵn sàng.

Và một gợi ý cuối cùng, nếu bạn có điều kiện áp dụng nó, hãy đầu tư một máy tính xách tay (hoặc một notebook điện tử) thực sự cơ động – nhỏ và nhẹ – mà có thể đem theo một cách dễ dàng trong hành lý xách tay. Khi bạn trở nên bận rộn hơn, và khi bạn viết nhiều hơn, bạn sẽ hiếm khi có thể ngồi một cách thoải mái ở bàn ở nhà hoặc ở phòng làm việc để viết. Đó là một thói quen tốt khi không tạo dựng một nơi hứng thú để viết – hoặc cách viết ở mọi nơi bạn đang đến, đặc biệt khi đang đi du lịch. Nó sẽ lấp đầy thời gian và lấp đầy các trang.

(3) Quy tắc số 3: Tìm kiếm sự phê bình

Mỗi lần bạn viết trang nháp đầu tiên, đó là lúc để bắt đầu sắp xếp lại công việc của bạn. Ngay cả những người viết giầu kinh nghiệm cũng hiếm khi viết đúng ngay lần đầu tiên: một vài sự sửa chữa và biên tập lại phần viết của bạn là điều cần thiết/ Các điểm chính của quá trình đã mô tả ở phía trên sẽ có một vài thứ gì đó cần được biên tập lại. Tuy nhiên, hãy tin chắc rằng bạn viết càng nhiều, bạn sẽ trở nên càng tốt hơn khi cố gắng viết đúng qua một vài bản nháp.

Không có giới hạn nào cho những gì bạn có thể làm trong việc tự biên tập lại bản nháp của mình. Bạn có thể phải kiểm tra lại những thứ đơn giản như lỗi chính tả; đừng tin tưởng vào công cụ check lỗi chính tả và ngữ pháp của phần mềm soạn thảo (những từ như “net” và “ten” thường dễ bị gõ nhầm với nhau và không được nhận biết như một lỗi). Mặt khác, đừng nghiên cứu kỹ những lỗi diễn đạt mà công cụ soạn thảo chỉ ra, nhiều người không như thế.

Hơn nữa, kiểm tra ngữ pháp và cách diễn đạt của các cụm từ và câu để chắc chắn nó diễn tả đúng ý nghĩa; thử bỏ các từ không cần thiết (xem Chương 5) và nói chung chắc chắn rằng bản hảo được sắp xếp có logic. Có thể sẽ mất một vài phiên làm việc cho quá trình biên tập này. Mỗi lần bạn hoàn thành công việc biên tập một bản nháp, đừng quay trở lại với điểm bắt đầu và khởi động lại với một vị trí tương tự; thực sự nên để công việc đó sang một bên và quay trở lại nó vào lúc khác. Mỗi lần bạn cảm thấy hạnh phúc với công việc viết lách của mình và biên tập nó thì bạn đã sẵn sàng cho bước quan trọng tiếp theo, đó là đưa cho ai đó đọc. Đó là một cách rèn luyện thông minh để tìm kiếm sự phê bình cho công việc của bạn, và ngay cả hầu hết những người viết giầu kinh nghiệm cũng làm vậy. Vì là một người biên tập nên rất dễ dàng để biết được ai đã nhận những lời khuyên trước khi nộp một bài báo. Ở Chương 5 bạn sẽ nhìn thấy một ví dụ mà nếu các tác giả đã làm như vậy, họ có thể sẽ cải thiện được khả năng thành công của họ.

Về đón nhận những đánh giá phê bình

Không bao giờ là dễ dàng để tìm kiếm được những lời phê bình, hoặc một quan điểm, nó luôn luôn kèm theo một vài nguy cơ. Chúng ta đều cần sự giúp đỡ cho việc viết lách và hầu hết chúng ta đều muốn, nhưng chúng ta không muốn yêu cầu. Chúng ta sợ những lời nhận xét trái chiều, nhưng nếu bạn luôn ghi nhớ một vài điều dưới đây, điều đó sẽ trở nên dễ dàng hơn với bạn, và giống như tự bản thân việc viết lách, bạn càng đón nhận nhiều lời phê bình, bạn lại càng dễ dàng để đón nhận nó, khi mà bạn trở thành một người viết tốt hơn và hãy đòi hỏi một vài nhận xét trái chiều và thay đổi.

Một điểm tốt cần ghi nhớ là, nếu bạn đang viết để công bố (kể cả nó là một bài báo hay một chương sách), bạn không phải viết nó cho bạn, bạn đang viết cho mọi người. Với lý do này, công chúng là người phán xét tốt nhất cho công việc viết của bạn. Vì thế, mỗi lần bạn vui mừng với bản nháp đầu tiên của bạn, hãy tìm một người nào đó để đọc nó; để tốt hơn nữa, hãy tìm hơn một người. Số lượng tối ưu trong mắt tôi là 2 người; nó có thể có lợi khi có nhiều hơn một quan điểm nhưng sự có ích này không trở thành “ném bom” với thật nhiều đánh giá.

Tôi nhận thấy rằng những bạn đồng nghiệp giầu kinh nghiệm viết lách và những đồng nghiệp ít kinh nghiệm viết lách có ích như nhau, nhưng có một vài lý do khác nhau. Những đồng nghiệp giàu kinh nghiệm thường đã gửi đến những tạp chí giống như bạn đang nhắm vào và sẽ bình luận về những cấu trúc chung và chất lượng của những lý lẽ, họ cũng có thể được xem giống như những người biên tập và các tạp chí thường làm. Những đồng nghiệp ít kinh nghiệm, và đôi khi những người không liên quan đến những chủ đề mà bạn đang viết, thường xuyên hỏi, lặp lại nhiều lần, “nó có nghĩa là gì?” hoặc đánh dấu ra ngoài “nó không diễn đạt đúng nghĩa”, và thường xuyên soi ra những lỗi nhỏ mà bạn không để ý. Đó là giá trị của tất cả những lời phê bình.

Bạn phải học cách để chấp nhận những lời phê bình và không tự ái; những lời phê bình là về bản viết của bạn và không phải về bạn. Kể cả với những đánh giá phủ nhận cũng thế, cuối cùng, sẽ là chấp nhận nếu chúng có thể giúp bản thảo của bạn được công bố. Ghi nhớ trong đàu rằng, nếu bạn không thích nghi với những lời phê bình ở cấp độ này, bạn sẽ nhận nó từ những nhà phê bình bản thảo bạn và từ những người biên tập, với khả năng sẽ có kết cục trầm trọng hơn, thông thường là từ chối bản thảo của bạn. Trong khi không có bất kỳ sự đảm bảo nào cho việc chấp nhận, bạn nên nhận thức rằng hầu hết những lý do thông thường để từ chối là một bài viết tồi tệ, và bạn muốn vượt qua rào cản đó nếu bạn có thể và muốn nội dung bản thảo của bạn được đọc  và không bị từ chối để nó được trình bầy. Cũng giống như thế, nếu bạn yêu cầu ai đó phê bình bài viết của bạn, bạn phải tự nguyện làm điều đó; có mội vài thứ bạn sẽ trở nên tốt hơn và nhanh hơn vì bạn thu được nhiều kinh nghiệm. Cuối cùng bạn có thể có nhiều kinh nghiệm đủ để tự tin trở thành một nhà phê bình cho tạp chí (chương 12).

Ai sẽ được yêu cầu cho những nhận xét phê bình?

Hãy hỏi ai mà bạn thấy tin tưởng: bạn cần phải chắc chắn rằng bạn đang đi tìm những lời phê bình về bài viết của mình và không phải bạn; đừng hỏi những người luôn luôn phủ nhận – đó là sự chuyên chế không có lợi nếu bạn biết ai đó luôn luôn đưa ra những phản hồi phủ nhận và nó cũng là tiêu cực và không có tính chất xây dựng. Tuy nhiên, đừng đón nhận những lời phê bình từ những người luôn luôn sợ phải đưa ra lời phê bình. Và ở một hình ảnh ngược lại, loại người mà trả lại bạn bản thảo mà không có một gợi ý nào cho sự thay đổi và luôn luôn khen ngợi bạn thì cũng không có ích. Bài viết của bạn rất hiếm khi hoàn hảo, và nó luôn luôn có cơ hội để hoàn thiện hơn, ngya cả đối với hầu hết những người viết giầu kinh nghiệm. Rất hiếm khi các tác giả được chấp nhận một bài viết mà không có sự thay đổi nào (xem chương 5).

(4) Quy tắc số 4: Sửa chữa sự loại bỏ để bắt đầu cho lần nộp tiếp theo

Quy tắc số 4 của việc viết lách là một phần cốt yếu cho cả quá trình – đặc biệt cho các tạp chí nghiên cứu: sửa chữa sự loại bỏ để bắt đầu cho lần đăng ký tiếp theo. Nếu như bản thảo của bạn bị từ chối bởi một tạp chí, sau đó không có gì có thể ngăn bạn nộp bài lại lần nữa. Gần như là phổ biến trong mọi trường hợp, bản quyền được gán cho nhà xuất bản nơi mà bạn nộp bản thảo vào thời điểm bạn nộp hồ sơ,  nhưng nếu như bản thảo bị từ chối, thì sau đó bản quyền lại gán trở lại cho bạn và bạn không được từ bỏ nó. (Giữ lại các bài báo bị từ chối trong một ngăn kéo mà không làm gì với chúng sẽ không có ích, thực sự không tốt cho bạn mà cũng không tốt cho người biên tập, những người đã bỏ thời gian để đưa ra những phản hồi có tính xây dựng). Nó giúp ích, nhờ thế mà hiểu được lý do của sự từ chối, để có thể tập trung vào bước tiếp theo (xem Chương 5).

Lý do của sự từ chối

Các lý do thông thường của việc từ chối một bản thảo là một bản viết tồi, và nó có thể xẩy ra nếu bản thảo của bạn đã từng bị từ chối với lý do này. Nếu bạn tuân tho quy tắc thứ 3 của viết lách (tìm kiếm lời phê bình), bạn có thể giảm thiểu được lý do này cho sự từ chối, nhưng đó không phải là một bảo đảm. Tuy nhiên, nếu bạn thấy có vẻ bản thảo của bạn là một bản viết tốt, sau đó nó bị từ chối bởi một vài lý do khác, và những điều này sẽ được nhắc đến chi tiết trong chương 5.

Tuy nhiên, nó là điều quan trọng để đánh giá đúng, và các tạp chí thường xuyên có rất nhiều áp lực về giới hạn không gian cho các bài báo mà họ có thể sẽ xuất bản trong một kỳ hoặc một tập san ( số của các kỳ quy định trong năm).

Các tạp chí được thiết lập kém thường nhận ít bản thảo thường có xu hướng nhỏ, và hơn nữa, thường có ít không gian để xuất bản bài báo. Kết quả là họ có thể sẽ ít được biết đến hơn. Mặt khác, các tạp chí được thiết lập tốt thường rất phổ biến, mà họ cũng lớn hơn và xuất bản thường xuyên hơn, thường nhận được số bản thảo vượt quá không gian có thể (xem chương 5). Ví dụ, khi tôi còn là một biên tập của tạp chí  “Journal of Clinical Nursing”, chúng tôi nhận được số bản thảo nhiều hơn gần 3 lần so với sô lượng chúng tôi có thể xuất bản một năm; đối với các tạp chí như BMJ (British Medical Journal), con số đó là xấp xỉ 10 lần. Khi điều đó xẩy ra, nếu tạp chí tiếp tục chấp nhận phần lớn các bản thảo đó, sau đó các tác giả tiếp tục chờ đợi trong một khoảng thời gian dài, đôi khi là hàng năm, trước khi bài báo được xuất bản (dưới dạng giấy), và thông tin trong đó đã mất đi tính cập nhật khi được xuất bản. Tuy nhiên, sự ra đời của nộp bài điện tử cũng có nghĩa là, ngay lập tức bản in thử của bài báo đã được chỉnh sửa chính xác, bài báo có thể được xuất bản ở dạng điện tử trên trang web của tạp chí trước khi được xuất bản bằng phiên bản bản in giấy. Ví dụ về một vài bài viết dưới dạng báo [article in press](Nurse Education in Practice – Elsevier) và xem trước [early view](Journal of Advanced Nursing – Willey Blackwell).

Vì thế, để điều tiết số lượng lớn các bản thảo đã đăng ký, một hành động duy nhất mà các nhà biên tập của tạp chí có thể làm là từ chối nhiều bản thảo để tăng tốc độ của việc xuất bản và làm cho nội dung được thông suốt. Điều đó cũng làm tăng chất lượng các bài báo của tạp chí vì biên tập sau đó có thể chọn ra các bản thảo có liên quan nhiều hơn tới tạp chí mà có chất lượng cao nhất. Vì thế, bản thảo của bạn có thể bị từ chối bởi vì nó không gây ấn tượng với biên tập khi đăng ký, hặc nó được gửi đi để đánh giá, một vài lời phê bình của những người đánh giá có vẻ như chính là kết quả cho lời từ chối (xem chương 11 và 12). Nếu như bản thảo đã được gửi ra ngoài để đánh giá, và sau đó nó được gửi trở lại với một vài phản hồi cung cấp lý do để từ chối, bạn nên quan tâm đến nó và nghiên cứu phản hồi này khi có thể trong quá trình đăng ký ở bất kỳ đâu.

Quá trình của việc đăng ký bản thảo, đánh giá và từ chối hoặc chấp nhận bản thảo để xuất bản không phải một quy trình khoa học; ở mỗi bước, các cá nhân có liên quan và tất cả họ đều được đòi hỏi phải rèn luyện chuyên môn của họ và óc phán đoán cá nhân. Vì thế không có bất kỳ cách nào đảm bảo đạt được việc xuất bản và dự đoán trước những nhận xét bạn có thể nhận được. Tuy nhiên, bạn sẽ đọc được ở chương 11 và 12, biên tập của một vài tạp chí có những dấu hiệu kiên quyết –  những gì phải làm khi xác định bản chất của những phản hồi tới tác giả. Những phản hồi thiếu tính xây dựng không hữu ích cho bất kỳ ai mới viết hoặc áp đặt tác giả, và vai trò của nó là đảm bảo rằng các tác giả không dừng việc viết lách trước khi thực sự bắt đầu.

 

QUY TRÌNH CỦA QUÁ TRÌNH XUẤT BẢN

Để trở thành một người viết thành công, bạn nên hiểu về quy trình của việc xuất bản. Nếu bạn làm thế, bạn sẽ hiểu cái gì sẽ xẩy ra với bản thảo của bạn và bạn sẽ trở nên tốt hơn khi trình bầy bản thảo của mình để làm tăng cơ hội được xuất bản.

Mục tiêu và phạm vi của tạp chí

Nhiều hơn việc đọc các hướng dẫn của các tạp chí, bạn nên nghiên c ứu rộng hơn và tìm hiểu về mục tiêu và phạm vi của tạp chí mà bạn định đăng ký nộp bài. Những thứ đó sẽ nói cho bạn tạp chí đó như thế nào, đó là nhà xuất bản và đội ngũ biên tập, xem tạp chí của họ và mục đích của nó [tạp chí] liên quan đến các loại bài báo mà nó [tạp chí] muốn xuất bản. Mục tiêu của tạp chí thường có xu hướng như nhau trong một vài từ như trở nên quốc tế hóa, trao đổi các quan điểm[exchanging view], thúc đẩy học thuật, và vân vân, nhưng bạn cần phải chắc chắn về những gì bạn đang quan tâm tới, và phạm vi của nó sẽ nói cho bạn, ví dụ, nếu như tạp chí xuất bản tất cả các loại nghiên cứu; ví dụ giả sử nó chấp nhận các bài báo trong lĩnh vực sản và hầu hết các chuyên môn về sức khỏe khác như y tá. Nếu như bạn còn có bất kỳ nghi ngờ nào, hãy liên lạc thư từ với văn phòng tạp chí. Về ví dụ về mục tiêu và phạm vi ( sửa đổi sơ sơ ở đây) của hai tạp chí (Journal of Clinical Nursing và Nurse Education in Practice), xem Box 2.8; bạn có nhìn thấy những sự khác nhau như thế nào và bạn có thể trộn mục tiêu cũng như phạm vi của những mục đó không? Nếu còn hoài nghi hãy kiểm tra trên tạp chí online.

Box 2.8 Mục tiêu và phạm vi của tạp chí

 Journal 1

The journal is an international, peer-reviewed, scientific journal that seeks to promote the development and exchange of knowledge that is directly relevant to all spheres of nursing and midwifery practice. The primary aim is to promote a high standard of clinically related scholarship that supports the practice and discipline of nursing. The journal publishes high-quality manuscripts on issues related to clinical nursing, regardless of where care is provided. This includes – but is not limited to – ambulatory care, community care, family care, home, hospital, practice, primary and secondary and public health.

The journal also aims to promote the international exchange of ideas and experience that draws from the different cultures in which practice takes place. Further, the journal seeks to enrich insight into clinical need and the implications for nursing intervention and models of service delivery. An emphasis is placed on promoting critical debate on the art and science of nursing practice.

The journal endeavours to attract a wide readership that embraces experienced clinical nurses, student nurses and those who support, inform and investigate nursing practice. The development of clinical practice and the changing patterns of inter-professional working are also central to the journal’s scope of interest. As such, contributions are welcomed from other health professions on issues that have a direct impact on nursing practice.

Journal 2

The journal enables lecturers and practitioners to both share and disseminate evidence that demonstrates the actual practice of education as it is experienced in the realities of their respective work environments, that is, both in the university/faculty and clinical settings. It is supportive of new authors and is at the forefront in publishing individual and collaborative manuscripts that demonstrate the link between education and practice.

Nursing is a discipline that is grounded in its practice origins – nurse educators utilise research-based evidence to promote good practice in education in all its fields. A strength of this journal is that it seeks to promote the development of a body of evidence to underpin the foundation of nurse education practice, as well as promoting and publishing education-focused manuscripts from other healthcare professions that have the same underpinning philosophy.

Case studies and innovative developments that demonstrate how nursing and healthcare educators teach and facilitate learning, together with reflection and action that seeks to transform their professional practice, will be promoted.

The opportunity to stimulate debate is encouraged as is the promotion of evidence-based nursing education internationally.

 

Các biên tập và Ban biên tập

Tất cả các tạp chí đều có những người này; đó có thể là người đứng đầu biên tập, đôi khi gọi là biên tập viên hoặc tổng biên tập, phụ thuộc vào cách mà tạp chí tổ chức. Kể cả những biên tập viên của cuốn sách này, giống như các tác giả của chương này, chính xác là những biên tập viên của các tạp chí quốc tế. Biên tập viên/ tổng biên tập là người được thuê bởi các nhà xuất bản để vận hành tạp chí từ ngày sang ngày, với các nhà xuất bản, là để thiết lập các chính sách và hoạt động của tạp chí. Các biên tập viên thường thiết lập [mối quan hệ với] các học giả trong lĩnh vực của họ. Các biên tập viên hầu hết là người thường xuất hiện ở cả trong nước và quốc tế; họ tham dự các hội nghị quan trọng trong lĩnh vực của họ và sẽ thật tốt nếu như bạn có thể tạo mối liên lạc với họ. Họ cũng thường có những bài diễn thuyết ở tạp chí của họ, hoặc ở các workshop [hội thảo nhỏ] về cách làm sao để đăng ký đăng bài trên tạp chí của họ. Nếu như bạn có cơ hội, tham dự những buổi đó và sẽ thu được nhiều hiểu biết hơn nữa về cách tạp chí của họ hoạt động và những loại bài nghiên cứu nào sẽ được chấp nhận. Công việc của các biên tập và nhà xuất bản sẽ được giải thích rõ ở chương 11.

Chỉ số ảnh hưởng (Impact Factor)

Sự tăng lên về số lượng của các tạp chí có một chỉ số ảnh hưởng, đó là một thước đo sự thường xuyên được trích dẫn bởi các tác giả khác đối với các bài nghiên cứu được đăng trên tạp chí  trên các tạp chí khác, cũng tương tự như vậy, nó có một chỉ số trích dẫn. Hệ thống chính được đưa ra bởi Thomson Reuters.

Chỉ số ảnh hưởng có sự tranh cãi và sẽ không được thảo luận dài ở đây, nhưng trong một chừng mực, các nhà xuất bản đánh giá sự thành công của tạp chí của họ bằng chỉ số ảnh hưởng, như là có một bảng xếp hạng hàng năm của tạp chí bằng chỉ số tác động – một bảng đấu, nếu như bạn thích gọi như vậy. Vì thế, bất kể bạn nhìn nhận thế nào về chỉ số ảnh hưởng, bạn nên nhận ra rằng những thứ đó là quan trọng đối với biên tập và nhà xuất bản, và bài nghiên cứu nào dường như có thể giúp cho tạp chí tăng chỉ số ảnh hưởng của nó thì sẽ dường như, nhưng không có nghĩa là chắc chắn, sẽ dễ được xuất bản hơn. Cũng có hệ thống khác để theo dõi số lần trích dẫn, và Scopus, là hệ thống được đưa ra bởi Elsevier, sử dụng một công cụ gọi là SCImago để tính toán chỉ số ảnh hưởng riêng.

Cái gì làm tăng chỉ số ảnh hưởng?

Các nhà xuất bản dễ dàng nhận thấy những bài nghiên cứu nào làm tăng chỉ số ảnh hưởng của họ và họ nghiên cứu phần trình bầy của từng bộ phận trong bài nghiên cứu và  loại của bản thảo theo từng năm một, và chia sẻ những thông tin này với các biên tập của họ. Các bản thảo chủ yếu đóng góp cho chỉ số ảnh hưởng đều là bản thảo tổng quan [review]. Những bài này luôn luôn đóng vai trò quan trọng đối với tạp chí bởi vì bất kỳ ai khi nghiên cứu một lĩnh vực nào cũng đều “bị hút” vào các bản thảo tổng quan (gồm cả nhan đề Systematic [phân tích hệ thống] và Literature Review [tổng quan tài liệu đơn thuần]); những thứ này đặc biệt được yêu thích bởi các nghiên cứu của sinh viên, là những người thích trích dẫn các bài tổng quan phù hợp trong luận văn và các bài đăng báo có liên quan đến nó. Những sinh viên này cũng chuẩn bị sẵn một tập hợp dữ liệu các tài liệu tham khảo mà họ có thể sử dụng như một nguồn nguyên liệu cho nghiên cứu của mình.

Thêm vào đó, tầm quan trọng và sự phổ biến của các bản thảo tổng quan đã được tăng lên với sự  ra đời của thực hành dựa trên bằng chứng và phương pháp sàng lọc tổng quan kỹ lưỡng. Vì vậy, nếu như bạn đăng ký một bài tổng quan với một tạp chí, bạn đã làm tăng khả năng được xuất bản của mình. Ví dụ về một bản thảo có lượng trích dẫn cao từ tạp chí Journal of Clinical Nursing, có thể xem Ross (2006) và Shields et al. (2006).

Những loại bản thảo khác mà được biết rằng có làm tăng chỉ số trích dẫn – và thường có lý do giống như đối với bản thảo tổng quan – đều tập trung vào nghiên cứu về phương pháp, ví dụ như Rattray và Jones (2007). Những bản thảo này có thể xem xét lại cách sử dụng các phương pháp, hoặc họ đưa ra bản thảo về áp dụng một phương pháp mới hoặc giới thiệu một phương pháp mới. Các loại bản thảo bàn luận [suy luận] được biết đến có thể làm tăng chỉ số ảnh hưởng vì nó thường trở thành “bướt ngoặt” trong lĩnh vực của họ, một ví dụ khá tốt và có chỉ số trích dẫn cao ở đây là Paley (2001). Cuối cùng, ngoài những nhóm đã kể ra ở trên là những bản thảo chủ đề linh tinh khác mà có thể sẽ có chỉ số trích dẫn cao, và các lý do cho nó thì rất khó để nhóm lại; thông thường nó là những bản thảo có chất lượng rất cao được đưa ra bởi những viện nghiên cứu cao cấp, nhưng không phải luôn luôn là vậy. Thường thường, họ tập trung vào các xu hướng đang phát triển trong lĩnh vực hoặc khu vực được ưu tiên bởi chính phủ hoặc tổ chức nghiên cứu.

Điều gì xảy ra tiếp theo?

Được xem như đã có sự khởi đầu và các vấn đề cần xem xét trong quá trình thiết lập hành trình viết của bạn, bạn có thể hỏi cái gì sẽ xẩy ra tiếp theo? Như bạn đã nhận ra, tất cả mọi đăng ký không có kết quả là sự chấp nhận. Tuy nhiên, nhiều người cảm ơn một kế hoạch và lợi ích của chiến lược viết tốt, và nó là sự khởi đầu cho tiến trình khác là chỉnh sửa bản thảo cuối cùng nhằm trình bầy theo các tiêu chuẩn mà biên tập viên mong đợi trước khi nó được gửi đi để chế bản. Quá trình xuất bản được khái quát ở chương 11. Tôi hy vọng rằng chương này có ích để bản bắt đầu trải nghiệm viết để đăng bài xuất bản, và có tự tin để “have a go” vào thứ gì hoặc trở thành một kinh nghiệm cá nhân bổ ích và chuyên nghiệp.

 Tài liệu tham khảo:

Hodson, P. cited in Swain, H. (2007) The write stuff and how to get it Times Higher Education 14 September. Available at: http://tiny.cc/h0ry7 [Accessed 14 May 2011].

King, S. (2004) Stephen king’s advice for writers: read a lot; write a lot. Available at: http://tiny.cc/lsum8 [Accessed 14 May 2011].

Miser, H.J. (1998) Journal editing as I see it. CBE Views, 22, 71–75.

Paley, J. (2001) An archaeology of caring knowledge. Journal of Advanced Nursing, 36, 188–198.

Rattray, J. & Jones, M.C. (2007) Essential elements of questionnaire design and development. Journal of Clinical Nursing, 16, 234–243.

Ross, L. (2006) Spiritual care in nursing: an overview of the research to date. Journal of Clinical Nursing, 15, 852–862.

Russell, M. (2010) The independent climate change e-mails review. Available at: http://tiny.cc/dkxyo [Accessed 11 May 2011].

Salwak, D. (2011) Listen to your sentences. Times Higher Education, 7 (April), 44–47.

Shields, L., Pratt, J. & Hunter, J. (2006) Family centred care: a review of qualitative studies. Journal of Clinical Nursing, 15, 1317–1323.

Sullivan, E. (2002) Top 10 reasons a manuscript is rejected. Journal of Professional Nursing, 18, 1–2.

Watson, R. (2006) Writing an abstract. Nurse Author & Editor 16, 4. Available at: http://tiny.cc/nqqde [Accessed 11 May 2011].

Watson, R. (2011) Rules of writing for publication. Available at: http://tiny.cc/qtv4c [Accessed 11 May 2011].

 

Dịch: Trần Anh

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s