PHÚC THỐNG

Phúc thống, tục gọi là đau bụng, là một triệu chứng lâm sàng thường gặp, bệnh ở nhiều hệ thống như tiêu hóa, tiết niệu sinh dục… đều có thể xuất hiện đau bụng. “Phúc thống” có nghĩa rộng và nghĩa hẹp, nghĩa rộng bao gồm các chứng đau ở bụng trên như đau dạ dầy, nghĩa hẹp của “phúc thống” chỉ bao gồm nghĩa của đau dạ dầy.

Ở phía trước khi bàn về “kết hợp chữa bệnh của phủ (合治内腑)”, có bàn tới bệnh của tạng phủ, đặt biệt là bệnh của lục phủ cư tại phần bụng, đau đa phần đều ở xung quanh các huyệt mộ, vị trí đau ở bụng khác nhau, chọn các huyệt vị cũng không giống nhau. Dựa theo quan sát của tôi trên lâm sàng nhiều năm qua, đối với các chứng đau bụng mạn tính có thể vận dụng phương pháp biện chứng này

  1. Túc Tam Lý hoặc Trung Quản

Chủ yếu dùng để điều trị các chứng đau bụng mà vị trí đau là xung quanh huyệt Trung Quản, chính là vị quản thống. Ở phần Vị quản thống dùng 1 kim để điều trị cũng đã nhắc tới.

Trung Quản là huyệt hội của phủ, trên phương diện lý luận, lục phủ Đởm, Vị, Đại tràng, Tiểu tràng, Tam tiêu, Bàng quang đều có thể chọn huyệt Trung Quản, nhưng đối với điều trị một bệnh của phủ nào đó (trừ phủ Vị) thì vẫn chưa phải là huyệt tốt nhất. Ví dụ, một người nhiều đa tài đa nghệ biết hát, biết thư pháp, biết đá bóng… cái gì cũng biết, nhưng khi so sánh cụ thể mỗi tài nghệ với một người chỉ giỏi một thứ gì đó, thì không phải là người giỏi nhất nữa.

  1. Thượng Cự Hư

Đau quanh rốn, hay đau mà huyệt Thiên Khu hai bên là trung tâm là thuộc bệnh của Đại Tràng, nên chọn hạ hợp huyệt của Đại tràng là Hạ Cự Hư. Kiểu đau này nên lâm sàng gặp tương đối nhiều, thường gặp ở các loại đau cấp – mạn tính của ruột. Chỉ cần châm Hạ Cự Hư, cũng có thể phối hợp cùng với Thiên Khu đều thu được kết quả tốt.

  1. Hạ Cự Hư

Đau bụng dưới rốn, đặt biệt là đau bụng mà huyệt Quan Nguyên là trung tâm, là bệnh thuộc Tiểu trường, nên châm thích hạ huyệt của Tiểu trường là Hạ Cự Hư. Bởi vì, dưới rốn là nơi tụ của nguyên khí trong cơ thể, cho nên những ca đau bụng dưới mà tôi đã từng gặp trên lâm sàng, gần như không có ca nào khác đi đều là đau ngâm ngẩm, thích ấn, mà khi ấn thì thấy mềm nhão, chứng minh rằng thận nguyên hư suy, ở phần trước của quyển sách này cũng đãn nhắc tới bệnh án ví dụ về bệnh của Tiểu trường. Cũng có một số bệnh nhân buổi chiều vào giờ Dậu (5 – 7h) đau nặng lên, có thể tham khảo thêm sách “1 kim để trị bệnh theo thời gian”. Tôi vốn nghĩ rằng đau bụng dưới thuộc về Thận hư là phát hiện lâm sàng mới, cho đến khi tôi đọc sách của một trong bốn vị đại danh y thời Kim Nguyên là Lý Đông Viên, mới biết rằng Lý Đông Viên đã sớm ứng dụng trên lâm sàng, phần chú ở sau phương nổi tiếng của ông “Bổ trung ích khí thang” có nhắc đến: nếu có đau bụng dưới thêm Thục Địa Hoàng. Gia Thục Địa Hoàng là để bổ thận.

Đau bụng dưới chỉ cần châm Hạ Cự Hư là có tác dụng, trên lâm sàng tôi thường phối hợp thêm Quan Nguyên, Thái Khê, dùng bổ pháp, hiệu quả càng cao.

Hạ Cự Hư là huyệt thuộc kinh Túc Dương Minh Vị, từ Thượng Cự Hư xuống 3 thốn, tức là từ Túc Tam Lý xuống 6 thốn.

  1. Khúc Tuyền

Bụng ở dưới rốn hai bên gọi là tiểu phúc, là nơi mà kinh Can đi qua, nếu như hai bên hoặc 1 bên tiểu phúc đau, đa phần có liên quan đến kinh Can. Đều có thể châm hợp huyệt kinh Can là Khúc Tuyền. Như trong “Trửu hậu ca” có viết: “bệnh ở bụng rốn châm huyệt Khúc Tuyền”.

Lâm sàng thường gặp nhất là tiểu phúc bên trái căng trướng đau, thậm chí nổi cục, đau bụng muốn đi ngoài, đi xong thì đỡ đau, thường gặp nhất là viêm đại tràng mãn tính. Bệnh này thường dùng các phương thuốc như Bạch Truật Thược Dược tán, Giáo sư Nhạc Khương Trung thường dùng Tứ nghịch tán gia Giới Bạch cũng có hiệu quả rất tốt, đều là biện chứng luận trị dựa trên Can, châm Khúc Tuyền cũng là cái lý này, có thể phối hợp sử dụng với A Thị huyệt.

Khúc Tuyền ở mé trong đầu gối, co gối ở phía trên đầu trong nếp gấp khoeo, chỗ hõm ở cạnh bám tận gân cơ bán gân bán mạc.

Đối với một số loại bệnh nhân nên dặn phải điều chỉnh cảm xúc, không nên buồn rầu lo lắng, nếu không trừ được nguyên nhân bệnh, bệnh rất dễ tái phát.

Bệnh nhân phụ khoa có thể thấy tiểu phúc 2 bên đau, nhưng vẫn chủ yếu đau ở tiểu phúc bên trái, trường hợp này có liên quan đến khí của kinh Can bên trái. Kinh nghiệm của tôi là, phàm có đau ở tiểu phúc bên trái, đa phần có liên quan đến kinh can. Khi dùng phương pháp điều trị thông thường mà không hiệu quả, kết hợp với mạch chứng, kiểu bệnh nhân này phần nhiều là trướng thậm chí là đau, có sóng cuộn hoặc hòn cục, kèm theo tâm phiền, mạch quan bên trái mạnh hơn các bộ khác, mỗi lần tức giận đều đau nặng lên, chắc chắn bệnh kinh Can không cần nghi ngờ, biện chứng luận trị dựa trên Can, dù dùng thuốc hay châm đều thu được kết quả tốt.

Nguồn: 高树中. 一针疗法:《灵枢》诠用.济南,济南出版社,2007: 106 – 107.

Dịch: Tailieutrungy

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s