THẢO LUẬN VỀ NGUYÊN NHÂN VÀ CƠ CHẾ CỦA BỆNH THẬN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

THẢO LUẬN VỀ NGUYÊN NHÂN VÀ CƠ CHẾ CỦA BỆNH THẬN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Bệnh thận Đái tháo đường thuộc phạm trù biến chứng vi mạch do bệnh Đái tháo đường, là một loại bệnh thận thứ phát thường thấy trên lâm sàng, đứng thứ nhất trong 3 biến chứng nghiêm trọng thường gặp tại tim, não, thận, là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tử vong hoặc tàn tật do đái tháo đường. Theo thống kê, bệnh thận đái tháo đường chiếm tỉ lệ 60% số bệnh nhân tử vong do đái tháo đường, bệnh nhân mắc Đái tháo đường chết do thận hư nhiều gấp 17 lần so với bệnh nhân Đái tháo đường không có biến chứng tại thận. Tại các quốc gia phương Tây, bệnh thận đái tháo đường trở thành nguyên nhân đầu tiên của bệnh thận giai đoạn cuối, có thể nhận thấy nó là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và tử vong của bệnh nhân đái tháo đường. Thay đổi bệnh bệnh lý của bệnh thận đái tháo đường chủ yếu là tiểu cầu thận phì đại nhiễm mỡ, màng đáy dầy lên và cuộn mao mạch to ra, dẫn đến xơ hóa màng bao phủ (màng Bowman) hoặc các chỗ nối của tiểu cầu thận. Hiện nay, Tây y đối với cơ chế phát bệnh và nguyên nhân của bệnh này hoàn toàn rõ ràng, nhận định rằng đây là kết quả của nhiều yếu tố kết hợp với nhau gây ra, chủ yếu liên quan đến huyết động học của dòng máu đến thận gây ra, tác dụng có hại của đường nho, tác dụng của một vài nguyên nhân trong quá trình sinh trưởng và yếu tố tế bào, tộc người, di truyền và các thói quen sinh hoạt không tốt cũng có liên quan. Trên phương diện điều trị, tây y chủ yếu khống chế ăn uống, giảm đường, hạ áp… điều trị triệu chứng và làm chậm sự tiến triển, giai đoạn sau sử dụng phương pháp chạy thận hoặc ghép thận. Bởi vì thuốc tây y hiện đại có tác dụng hạn chế nhất định và có phản ứng không tốt, nhưng thuốc trung y truyền thống có tác dụng rất tốt trên các mặt cải thiện triệu chứng lâm sàng, giảm protein nước tiểu, làm chậm lại quá trình ác tính của chức năng thận. Vì vậy, tăng cường nghiên cứu phòng trị bệnh thận đái tháo đường là điều bắt buộc và rất cấp thiết. Qua thời gian dài nghiên cứu lâm sàng, chúng tôi nhận thấy bệnh nhân bệnh thận do đái tháo đường phần nhiều do tiêu khát lâu ngày cập thận, thận khuy âm dương đều tổn thương, huyết ứ trở lạc mà thành. Vì thế “ thận hư”, “lạc ứ” có quan hệ mật thiết với bệnh thận đái tháo đường.

  1. Thận khuy âm dương lưỡng hư là gốc của bệnh thận đái tháo đường

Nguyên phát của bệnh thận đái tháo đường là bệnh đái tháo đường, thuộc phạm trù chứng “Tiêu khát” của trung y. Khởi đầu của tiêu khát hiện ra nhiều ở thượng trung hạ tiêu phế táo vị nhiệt, thường kéo dài vài năm, lâu ngày dẫn đến thận, thận mất chức năng bế tàng, tinh bị tiết dần đi, mà dần dần thành bệnh tại thận. Dựa theo phân loại “tam tiêu”, giai đoạn bệnh thận đái tháo đường phần nhiều thuộc phạm trù của “hạ tiêu”, cũng có tên gọi là “thận tiêu”, “tiêu thận”; phát triển tới giai đoạn cuối khi mà chức năng thận hư đến khuy kiệt, người bệnh xuất hiện các triệu chứng phù thũng, thiếu máu, thiểu niệu… sẽ lại quy thuộc về phạm trù các chứng “thủy thũng”, “hư lao”…

Trung y cho rằng bệnh nguyên của tiêu khát, đầu tiên có quan hệ với tố chất của cơ thể, tiên thiên bẩm sinh không đủ, ngũ tạng hư nhược, thêm một bước là tạng thận vốn hư, đó có thể là cơ sở để phát bệnh. Như “Linh khu – Ngũ biến biện” chỉ ra: “Ngũ tạng giai nhu nhược, thiện bệnh tiêu đan”[1] . Thứ đến là ăn uống không điều tiết, ham ăn nhiều đồ ngọt, nội thương do lao động quá sức là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến bệnh này. Như “Tố vấn – Kỳ bệnh luận” có nói: “Thử nhân tất số thực cam mỹ nhi đa phì dã, phì giả lãnh nhân nội nhiệt, cam giả lãnh nhân trong mãn, cố kỳ khí thượng thịnh, chuyển vi tiêu khát”[2]. Mà thất tình thất điều, ngũ chí quá mức, lao động quá độ cũng có ảnh hưởng rất quan trọng đến phát sinh bệnh tiêu khát. Dựa vào những gì nhắc đến ở chân có nhiều nguyên nhân dẫn đến âm hư táo nhiệt mà phát sinh tiêu khát, bệnh biến chủ yếu diễn ra ở 3 tạng phế, vị (tỳ), thận, lại chủ yếu là bện ở thận, như “Thạch thất bí lục – quyển 6 – tứ thương môn” chỉ ra: “tiêu khát chi chứng, tuy phân thượng, trung, hạ, nhi dĩ thận hư chi khát, tắc vô bất đồng dã”[3].

Tùy theo quá trình kéo dài của bệnh, tiến triển của bệnh tình, trong quá trình dài ủ thành bệnh thận đái tháo đường, táo nhiệt là tà gây thương tân hao khí lâu ngày, thương đến tỳ thận, dẫn đến khí âm lưỡng hư, bệnh biến ở giai đoạn sau âm tổn cập dương, làm cho dương khí sinh hóa không đủ cuối cùng thành chứng âm dương đều hư. Khi bệnh đái tháo đường biến chứng đến tạng thận, biện chứng trung y hầu như thuộc về giai đoạn âm dương lưỡng hư. Dù bệnh thận đái tháo đường khởi đầu do phế, vị âm hư táo nhiệt, cuối cùng cũng hình thành thận khuy âm dương đều tổn thương. Các quá trình phát triển của cơ chế bệnh này, phản ánh bệnh thận đái tháo đường là một quá trình diễn biến mạn tính do bệnh chuyển từ nhẹ thành nặng, từ nông vào sâu, “ngũ tạng chi thương, …. tất cập thận”. Những kiến thức đã nhắc ở trên cùng với sự phát triển của bệnh đái tháo đường trở thành tiến trình bệnh lý thống nhất của bệnh thận đái tháo đường.

Thận là thủy tạng, chủ tàng tinh, là gốc của phong tàng, tiêu khát lâu ngày cập thận, thận hư không đủ, mất chức năng phong tàng, tinh quan không được cố, tinh dần bị tiết đi mà tiểu ra protein; sự xuất hiện của triệu chứng tiểu ra protein là tiêu chí chẩn đoán của bệnh thận đái tháo đường. Thận dương hư nhược, mất chức chức năng chủ thủy, không thể bốc lên trên, không khí hóa được bàng quang, thủy đạo không thông sướng, cho nên tiểu tiện không lợi; thủy thấp nội đình mà tràn lan khắp toàn thân, nên xuất hiện triệu chứng như thủy thũng… Như “Thánh tế tổng lục” viết: “Bệnh tiêu khát lâu ngày, thận khí bị thương, thận chủ thủy, thận khí hư khuy, khí hóa mất bình thường, hạp không lợi, thủy dịch tụ lại trong cơ thể xuất hiện thủy thũng”; sự xuất hiện của thủy thũng thường là tiêu chí quan trọng thể hiện sự nặng lên của bệnh thận đái tháo đường.

Dương hư mất sự ấm áp nên thấy sợ lạnh chân tay lạnh, sắc mặt trắng nhợt, mạch trầm nhược; lòng bàn tay chân nóng, lưng gối mỏi yếu, miệng khô muốn uống, vành tai khô, hình thể gầy rộc là triệu chứng của âm hư; tạng thận hư nhược, tiên thiên bẩm tố khuy hư; tỳ khí cũng hư, hậu thiên khies huyết hóa nguyên khuy hư hư, các tạng đều không được nuôi dưỡng đầy đủ, nên thấy chi thể mệt mỏi, buồn ngủ vô lực, sắc mặt vàng úa, tâm quý khí đoản; lưỡi đạm, rêu trắng, mạch trầm tế nhược đều là tượng của âm dương đều hư. Có thể thấy bệnh thận đái tháo đường lấy thận hư làm trung tâm, âm dương khí huyết đều tổn thương làm triệu chứng của bệnh cơ cơ bản. Điểm này cùng với các văn kiện báo cáo hiện đại trị liệu ở hạ tiêu đa phần dựa vào điều trị ở tạng thận, hoặc dùng Thận khí hoàn của Trọng Cảnh, hoặc dùng phối hợp các loại Lục vị Địa hoàng hoàn, Bát vị Địa hoàng hoàn, Tả quy hoàn, Hữu quy hoàn.

  1. Thận lạc ứ trở xuyên suốt từ đầu tới cuối bệnh thận đái tháo đường

Nghiên cứu hiện đại cho rằng, biến đổi bệnh lý cơ bản của bệnh thận Đái tháo đường là các mức độ xơ hóa khác nhau của tiểu cầu thận, tiểu quản thận, tiểu cầu thận bị teo nhỏ rõ rệt, tổ chức kẽ hóa sợi. Trong quá trình phát triển của bệnh thận đái tháo đường, ứ huyết trở lạc xuyên suốt từ đầu tới cuối quá trình bệnh, chính là bệnh lý cơ bản của nẩy sinh và phát sinh thêm các triệu chứng của bệnh. Âm hư huyết sẽ ngưng trệ, khí hư không có lực để vận huyết, nên mới có “cửu bệnh đa ứ”, “cửu bệnh nhập lạc”… đều là nguyên nhân hình thành huyết ứ. Quan sát lâm sàng cũng phát hiện, bệnh nhân bệnh thận đái tháo đường có các dấu hiệu của huyết ứ như chất lưỡi đa phần đỏ tối, tím tối [4] hoặc có điểm ứ hoặc chấm ứ, gốc lưỡi có đường lạc mạch quanh co, môi miệng có mầu hồng pha đen…

Bệnh nhân đái tháo đường lâu ngày mà có trạng thái đường máu cao thải dần qua nước tiểu ,  huyết dịch cô đặc, máu lưu chuyển chậm, độ kết dính của huyết dịch tăng cao, thêm vào đó là rối loạn trao đổi chất, tồn tại chứng mỡ máu cao, đều có thể khiến cho lưu chuyển của huyết dịch bất thường, vi tuần hoàn bị trở ngại, huyết dịch thành trạng thái đặc, ngưng, kết dính, phù hợp với đặc trưng “huyết ứ” trong Trung y; mà thay đổi bệnh lý quan trọng của bệnh thận Đái tháo đường – các mức độ khác nhau của xơ hóa tiểu cầu thận và tiểu quản thận, tiểu cầu thận teo nhỏ rõ rệt, tổ chức kẽ hóa sợi, cũng thuộc phạm trù chứng “Huyết ứ” của trung y. Huyết ứ là sản phẩm bệnh lý của bệnh thận đái tháo đường, đồng thời lại là nguyên nhân dẫn đến việc làm nặng thêm của bệnh. Nghiên cứu phát hiện rằng, bệnh thận đái tháo đường có kèm theo chứng mỡ máu cao, trạng thái ngưng đọng cao, làm nặng thêm biến chứng vi tuần hoàn, là nguyên nhân chủ yếu hàng đầu dẫn đến xơ hóa mạch máu thận cho đến tiểu cầu thận, thêm nữa ở bệnh nhân bệnh thận đái tháo đường có biểu hiện lâm sàng tổng hợp nhiều chứng, lại càng dễ xuất hiện kèm theo chứng tắc động mạch, tắc mạch, ảnh hưởng đến tiên lượng sau này, thậm chí là nguyên nhân quan trọng dẫn đến tàn tật, tử vong. Đồng thời, rất nhiều nghiên cứu lâm sàng và thực nghiệm đã chứng thực pháp hoạt huyết hóa ứ là phương pháp điều trị gốc bệnh có hiệu quả nhất. Theo như nghiên cứu phát hiện, trung dược hoạt huyết hóa ứ như Đan bì, Xuyên khung, Thủy điệt… tính năng của thuốc có tác dụng làm tiểu quản thận to ra, cải thiện vi tuần hoàn của thận, không cho ngưng kết máu, ức chế các tiểu cầu tập trung lại, còn có tác dụng chống oxy hóa, có thể sửa chữa rối loạn trao đổi chất cơ bản, ức chế tác dụng của phản ứng glycosyl hóa protein tại tổ chức, có thể giảm được tiểu ra protein, làm giảm tốc độ tiến triển thận hư.

Tóm lại, bệnh Đái tháo đường âm hư táo nhiệt lâu này, thương tân hao khí, âm tổn cập dương, cuối cùng thành âm dương lưỡng hư; Phế Vị Tỳ Thận các tạng đều tổn thương, nhưng lấy tổn thương thận làm chủ là xu thế phát triển bệnh lý cơ bản của bệnh thận Đái tháo đường. Bản hư tiêu thực, Thận hư trở lạc là đặc điểm bệnh cơ cơ bản của bệnh này. “Hư” là chỉ khí âm lưỡng hư ® âm tổn cập dương ® âm dương lưỡng hư, “Thực” tức là chỉ trên tiền đề của chứng hư, huyết ứ lạc trở, thủy ẩm thấp trọc… độc tà tích tụ. Chú ý loại hư thực này cùng xem xét, đặc điểm bệnh lý phức tạp của âm dương cùng tổn thương, trị liệu bắt buộc kiên trì theo nguyên tắc phù chính khu tà, hư thực kiêm cố, tiêu bản kiêm trị. Chúng tôi thông qua chỉ dẫn của pháp thông lạc ích thận, chọn dùng phương Thận khí hoàn hợp Chỉ đương thang[5]gia giảm mà thành Thông lạc ích thận thang, dựa vào tư âm trợ dương, hoạt huyết thông lạc, lợi thấp tả trọc để điều trị bệnh thận đái tháo đường, thông qua những bước đầu quan sát lâm sàng, đạt được kết quả khá tốt, làm cho kinh phương phát huy được tác dụng trong điều trị bệnh khó.

[1] 五脏皆柔弱者,善病消瘅

[3] 消渴之证,虽分上,中,下,而以肾虚致渴,则无不同也

[4] 暗红,暗紫:暗 dùng để chỉ sắc ám, tối; ở đây dùng cùng với mầu đỏ và mầu tím để chỉ chất lưỡi mầu đỏ hoặc tím nhưng sắc không tươi mà trông hơi tối, biểu hiện của huyết ứ.

[5] 扺当汤

(Bài này dịch từ 1 bài đăng trên 1 tạp chí Trung y của Trung Quốc, không rõ nguồn, chỉ có tính chất tham khảo.) 

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s