DỤNG DƯỢC TRONG “THƯƠNG HÀN LUẬN”: NGHIÊN CỨU VÀ THỰC TIỄN

DỤNG DƯỢC TRONG “THƯƠNG HÀN LUẬN”: NGHIÊN CỨU VÀ THỰC TIỄN[1]

Trong tư tưởng triết học của văn hóa cổ đại Trung Quôc Nho, Đạo, Thích, các sách y dược cổ đại như “Hoàng đế nội kinh”, “Nan kinh”, phân biệt  lí luận dược lý học của “Thương hàn luận” cung cấp cơ sở cho triết học, tài liệu thực tiễn về dược vật và trụ cột cho lí luận trung y, khiến cho “Thương hàn luận” trở thành lí pháp phương dược –  nối thông các sách y học kinh điển.

Dược vị dùng trong “Thương hàn luận” vốn không nhiều, nhưng trong sách lại bao hàm lí luận về dược lý học rất phong phú. Như liên quan đến bào chế dược vật, “Thương hàn luận” so với “Thang dịch kinh”, “Ngũ thập nhị bệnh phương”, về phương thức bào chế càng đa dạng, cũng càng tỉ mỉ hơn; về việc dùng lượng của dược vật, yêu cầu của  “Thương hàn luận” đối với liều lượng của dược vật càng nghiêm khắc; về phương diện phối ngũ của dược vật, “Thương hàn luận” càng nhấn mạnh thuộc tính tương phản khi dùng cùng nhau của dược vật, đối với điều trị những bệnh chứng phức tạp càng có ý nghĩa tích cực.

  1. Dụng dược có sắc thái riêng

Trương Trọng Cảnh trong việc dung hợp lí luận cơ bản của triết học cổ đại và trung y dược, kết hợp với thực tiễn lâm sàng đã hình thành một lí luận dùng thuốc đặc sắc riêng của mình. Sau  khi thông qua phân tích cụ thể “Thương hàn luận” không khó phát hiện ra rằng, trong thực tiễn dùng thuốc của ông, không những đã kế thừa lí luận dùng dược một cách hợp lý, mà còn đề xuất nhiều hướng suy nghĩ về dùng thuốc và phương pháp biện chứng luận trị dùng thuốc một cách sáng tạo, làm phong phúc thếm lí luận dùng thuốc của trung y dược. Khái quát lại, chủ yếu biện hiện ở mấy mặt đặc sắc sau:

  1. Biện luận theo bệnh để dùng dược[1]

“Thương hàn luận” tuy là sách chuyên về biện chứng luận trị, sử dụng dược vật phần nhiều dựa vào chứng để dùng, nhưng trong đó cũng không phải không có các ví dụ về việc biện luận theo bệnh để dùng dược. Như trong phần luận về dùng Ma hoàng định suyễn, Nhân trần trị hoàng đản, Bạch đầu ông chỉ lị…đều là ví dụ cụ thể về việc Trương Trọng Cảnh kế thừa kinh nghiệm sử dụng dược cơ bản của tiền nhân để dùng vào biện luận theo bệnh để dùng dược. Nội dung có liên quan tuy rằng không nhiều, nhưng thể hiện đầy đủ cách suy nghĩ của Trương Trọng Cảnh trong việc kế thừa những kinh nghiệm cơ bản của tiền nhân về biện luận theo bệnh dùng thuốc.

  1. Biện chứng dụng dược[2]

Ngoài biện bệnh dùng thuốc , quy tắc dụng dược đặc sắc riêng của Trọng Cảnh là biện chứng dụng dược, đây là nội dung vốn do Trọng Cảnh trong quán trình sử dụng dược sáng tạo nên. Phương pháp và nguyên tắc dụng dược này căn bản có sự khác biệt với nội dung tương đương trong Bản thảo trước kia. “Thần Nông bản thảo kinh” tuy rằng có mô tả về dược tính, phạm vi điều trị của dược vật, nhưng thiếu sự tìm hiểu về dụng dược cơ bản. “Thương hàn luận” trở thành quyển sách chuyên về biện chứng luận trị, đề xuất lí luận mới về mặt biện chứng cơ bản để dụng dược, hình thành cách tư duy đặc sắc về chọn dược để lập pháp theo chứng.

Biện chứng dụng dược trong “Thương hàn luận” vô cùng phong phú, nói khái quát lại, chủ yếu thể hiện ở mấy mặt sau: đầu tiên nhấn mạnh việc xem xét bệnh chứng nặng nhẹ, hoãn cấp rồi chọn dược vật tương ứng, nhờ đó mà chữa các bệnh chứng thích hợp càng hiệu quả.[3]Ví như Tứ nghịch thang và Can khương Phụ tử thang cùng trị Thận dương bất túc, nhưng phương của tiền nhân dùng Cam thảo, chủ yếu để điều hòa tính tân táo của Khương, Phụ, làm tăng tác dụng cam hoãn bổ ích, đối với điều trị các chứng thận dương hư nặng càng thích hợp; ngược lại, phương của đời sau không   dùng Cam thảo, lực của cam hoãn không đủ, mà tân tán có thừa, thích hợp với các chứng thận dương hư nhẹ, vì thế nên một vị thuốc có sự thay đổi, tác dụng điều trị vốn có với các chứng hoãn cấp, nặng nhẹ giống như bầu trời với mặt đất, hiện ra rõ ràng mối quan hệ giữa dùng thuốc và bệnh chứng nặng nhẹ hoãn cấp. Ngoài ra, bất kể loại thuốc nào trong lúc điều trị bệnh chứng tương ứng đều có thể thông qua phối ngũ hợp lý để đạt được mục đích biện chứng dụng dược, như Hoàng cầm phối với Hoàng liên, nặng về thanh nhiệt, nếu xuất hiện hàn nhiệt thác tạp, lại có thể dựa vào Hoàng cầm phối Can khương tân khai khổ giáng. Chứng hậu không giống nhau, ngoài việc nên  cân nhắc chọn dược vị, còn phải chú ý tới giá trị tuyệt đối của liều lượng thuốc cho đến tỉ lệ tương hỗ giữa các vị thuốc, ví như phương có thể thể hiện ý nghĩa tổng thể của thuốc sử dụng thay đổi theo chứng. Ví dụ Ma hoàng, Thạch cao lượng dùng thay đổi trong những bệnh chứng khác nhau, và hai loại này khi kết hợp để điều trị những bệnh chứng khác nhau sự thay đổi về tỉ lệ liều lượng trong phương đều không phải không thể hiện cách nghĩ này.

Tóm lại, dụng dược trong “Thương hàn luận” chủ yếu dựa vào chứng, thông qua biện chứng phân biệt thuộc tính của bệnh chứng, đề xuất một cách sáng tạo cách dụng dược “chứng biến dược cũng biến”. Ông khởi xướng việc không cố chấp vào biểu hiện ra của bệnh, cách suy nghĩ về dùng thuốc tập trung vào bộ vị bị bệnh, thuộc tính của chứng hậu, mức độ nặng nhẹ của bệnh, mâu thuẫn chủ yếu và quy luật chuyển biến của bệnh, khiến cho lí luận về sử dụng trung dược càng toàn diện, có hệ thống, càng tăng thêm giá trị chỉ đạo, tạo thành một khâu quan trọng trong lí luận biến chứng luận trị.

  1. Biện luận theo triệu chứng để dùng dược[4]

“Thương hàn luận” vẫn lưu lại khá nhiều các bằng chứng về biện luận theo “chứng”[5] để dùng thuốc. Có thể thấy rằng, dựa vào “chứng” dùng thuốc là bộ phận nguyên thủy nhất của lí luận dùng thuốc. Trọng Cảnh trong “Thương hàn luận” không chỉ kế  thừa nhiều những kiểu mẫu về dùng thuốc, mà còn dựa trên nền tảng cơ bản ban đầu có những bổ sung tương ứng, khiến cho lí luận về biện chứng dùng thuốc càng thêm phong phú, càng có ý nghĩa thực tiễn lâm sàng cụ thể, lại không phải là một phiên bản đơn giản “đầu thống y đầu, cước thống y thống”[6]. Nghiên cứu tỉ mỉ các ví dụ biện chứng dùng thuốc của “Thương hàn luận” không khó để phát hiện ra mấy đặc trưng sau:

Đối với thuộc tính của chứng trạng không thêm biện chứng phân biệt, mà theo biểu hiện của chứng hậu để dùng thuốc. Như trong nhiều chú ý phía sau điều về phương thuốc thấy ẩu thổ thêm Sinh khương, ho thêm Ngũ vị tử và Can Khương.. đều là ví dụ tiêu biểu tùy theo triệu chứng mà dùng thuốc.

Đối với cơ chế “chứng” (症:triệu chứng)” , chọn thuốc theo “chứng”, là nguyên tắc dụng dược sơ sài nhất, Trọng Cảnh trong thực tiễn lâm sàng, đã đề xuất một cách sáng tạo, tuy là đối “chứng”, nhưng lại là mạch suy nghĩ về dụng dược sau khi nghiên cứu kỹ thuộc tính của chứng trạng mới tiến hành chọn thuốc tương ứng. Dựa vào biểu hiện của chứng hậu làm đối tượng để phân biệt, thông qua quá trình biện chứng, làm rõ thuộc tính cơ bản của chứng trạng mới tiến hành dụng dược. Ví dụ trong phần chú ý của phương thuốc đồng thời xuất hiện triệu chứng đau bụng, nhưng dùng thuốc để điều trị lại phân ra dùng Phụ tử, Thược dược; đồng thời xuất hiện tiểu tiện không lợi, lại phân biệt dùng Quế chi, Phục linh. Nội dung này đều là ví dụ thực tế dựa vào triệu chứng làm manh mối, dựa vào biện chứng để dùng thuốc. Đây là một thiết lập dựa trên biện chứng cơ bản của quy luật dùng thuốc linh hoạt, trở thành nội dung sáng tạo của Trọng Cảnh trong lí luận dùng thuốc, sự tồn tại của nó đưa ra những gợi ý cho thế hệ sau khi gia giảm theo triệu chứng.

  1. Phối ngũ trong dùng thuốc

“Thương hàn luận” rất ít khi chỉ dùng một vị thuốc, dược vật đa phần xuất hiện dưới hình thức phối ngũ. Trương Trọng Cảnh trên cơ sở kế thừa lí luận cơ bản của tiền nhân về dùng thuốc, kết hợp với bệnh chứng, làm phong phú thêm nội dung phối ngũ vốn có, sáng lập hình thức phối ngũ mới, phát triển thêm ứng dụng của phối ngũ, hình thành lí luận phối ngũ dược vật đặc sắc riêng của mình.

“Thương hàn luận” trong sử dụng dược vật, ngoài vận dụng mối quan hệ hiệp đồng vốn có làm tăng hiệu quả của phối ngũ tương tu, tương sử , còn vì những bệnh chứng phức tạp tương tức mà tạo lập những cặp thuốc tương phản tương thành càng có giá trị ứng dụng, việc phối ngũ này thông qua việc lợi dụng sự tương phản về tính vị hoặc công năng, từ đó tổ hợp thành những cặp thuốc có đặc trưng tương chế, phát huy tác dụng khống chế lẫn nhau, điều tiết bổ sung cho nhau. Như Hoàng liên và Can khương, tính vị tương phản, sau khi phối ngũ có tác dụng tương thành; lại như Mạch đông và Bán hạ, tuy rằng công năng tương phản, nhưng thông qua phối ngũ có thể đạt được hiệu quả tương tế, tương tá hỗ dụng để nhuận táo.

Đồng thời “Thương hàn luận” trở thành sự cần thiết của điều trị bệnh chứng, lại đối với phối ngũ cấm kỵ “tương sát” trong thất tình của quy luật phối ngũ truyền thống đã làm ứng dụng của nó linh hoạt thêm, biến cái hại thành cái lợi, như Qua đế[7] và Đậu xị[8], khổ tả phối ngũ với toan liễm, toan khổ kích thích nhau dẫn đến nôn nhiều[9], dùng để chữa bệnh thực chứng phía trên. Sự phối ngũ này được ứng dụng linh hoạt làm phong phú và phát triển lí luận phối ngũ của dược vật.

Ngoài ra, Trọng Cảnh trong quá trình dùng thuốc càng chú ý tới thay đổi liều lượng của dược vật, thông qua thay đổi giá trị tuyệt đối của liều lượng thuốc hoặc tỉ lệ phối ngũ giữa các vị thuốc, có sự thay đổi về tác dụng điều trị và chủ trị, là đòi hỏi thích hợp với các chứng bệnh phức tạp rối rắm[10]. Như phối ngũ Quế chi và Thược dược, tăng thêm lượng Quế chi hoặc Thược dược, càng có thể đạt được mục đích này. Thông qua nghiên cứu liều lượng dùng thuốc trong lí luận dụng dược, làm cho hiểu biết về phối ngũ càng được sâu rộng.

  1. Một thuốc nhiều tác dụng

“Thương hàn luận” không những giúp hiểu biết đầy đủ đặc trưng mang tính đa dạng về tính vị và công năng của dược vật, mà trong quá trình ứng dụng linh hoạt vào điều trị những bệnh khác nhau đã hình thành  mô thức “một thuốc nhiều tác dụng”. Tuy rằng bệnh tình trên lâm sàng rối rắm phức tạp, Trọng Cảnh lại có thể chỉ dựa vào ít vị thuốc nhất mà đạt được hiệu quả điều trị tốt nhất, vì thế mà cấu thành một đặc sắc về ứng dụng dùng thuốc nữa.

Nội dung thứ nhất, chủ yếu thể hiện ra mấy đặc trưng: dựa vào “một thuốc nhiều tác dụng”, trong khi cố hết sức chọn thuốc chữa các chứng hậu phức tạp, nhiều chứng hậu có một vị thuốc nhất định có hiệu quả  điều trị, tiến hành trị liệu trên nhiều mặt, trong đó dựa vào nhóm thuốc có biểu hiện hiệu quả nhất. Vì vậy dùng thuốc, không chỉ có thể nhằm vào bản thân một bệnh để điều trị tương ứng, mà còn có thể chú ý đến nhiều vấn đề, có đặc điểm lượng thuốc dùng ít nhất nhưng hiệu quả thu được vẫn mạnh mẽ. Ví như Cát căt thang trị Thái dương biểu chứng chưa được giải, nhập lý hóa nhiệt, trường nhiệt mà đi ngoài, kỳ thực nhóm thuốc Cát căn chủ yếu nhập kinh Dương minh, vị cam tân hàn, bên ngoài tán tà chưa giải ở cơ biểu, bên trong thanh lý nhiệt là Dương minh, thăng phát thanh dương chỉ tả, chỉ có một vị thuốc mà 3 tác dụng tuyệt vời, chọn dùng cát căn để chữa chứng nên dùng, có thể giảm đi một tá sứ, dẫn kinh của phối ngũ dược vị. Lại như trong phương Tứ nghịch thang sử dụng Cam thảo, không chỉ có thể khống chế được độc của Phụ tử, mà còn có thể có tác dụng điều hòa các vị thuốc, làm hoãn cương táo, bổ ích tỳ vị… là một dạng thể hiện đặc trưng “một thuốc nhiều tác dụng”.

Sau nữa, Trọng Cảnh còn sử dụng đầy đủ đặc tính về tính vị cố định của dược vật và tác dụng đối với các tạng phủ kinh lạc khác nhau của dược vật, thông qua phối ngũ hợp lý, và dược vật của ông hình thành nên tác dụng mới, như Hoàng cầm trong Tả tâm thang không chỉ có tác dụng thanh nhiệt, còn có thể hợp dụng với thuốc có vị tân tạo ra tác dụng đặc trưng tân khai khổ giáng, cùng nhau điều trị báng chứng hàn nhiệt thác tạp.

Ngoài ra, Trọng Cảnh thậm chí còn sử dụng toàn bộ hình thức kết hợp dược của dược vật, dựa vào hiệu quả của thực tiễn “một thuốc nhiều tác dụng”, như trong phương Đào hoa thang, Xích thạch chi[11] lấy một nửa sắc, một nửa sau này uống bổ sung, trước chú trọng vào ôn sáp, điều lý từ tổng thể, sau đó chú trọng vào cố sáp, từ cục bộ để điều trị, đó là cùng một loại thuốc, cách dùng khác nhau, sẽ đưa đến những hiệu quả tuyệt vời khác nhau làm ví dụ chứng minh.

Ngoài nội dung đã nói ở trên, trong “Thương hàn luận còn nhiều chỗ vận dụng một loại dược vật chữa các bệnh chứng khác nhau, trong số các ví dụ về hiệu ứng khác nhau của dược vật, chính là cái được gọi là cùng một loại dược mà điều trị khác nhau[12]. Công năng của dược, Bản thảo học tuy rằng có kết luận, nhưng bệnh chứng tuy thiên biến vạn hóa, không có dược vật nào có công năng cố định như ban đầu mà có thể ứng đối, tùy theo chứng mà biến. Như Đại hoàng là chủ dược của Tam thừa khí thang, có tác dụng công hạ thông tiện, nhưng trong phương Nhân trần cao thang dùng Đại hoàng chỉ có 2 lượng, tác dụng công hạ biến thành thông phủ tả nhiệt, là con đường để thấp nhiệt tà ra ngoài; thang Đại hoàng Hoàng liên Tả tâm thang chủ trị khí báng, bỏ qua cách sắc thuốc thông thường, lấy nồi thuốc đang sôi to đem ngâm nước, là lấy cái khí hàn lương để thanh nhiệt, không dựa vào vị đắng để tả hạ, do đó, tuy cùng là Đại hoàng, vì phương pháp sử dụng, phối ngũ và nhằm vào bệnh chứng khác nhau, điều khác biệt này cực kỳ rõ ràng, nên sự khác biệt thích hợp này cũng tạo ra đặc trưng “ một thuốc nhiều tác dụng”.

Do vậy, thông qua nghiên cứu những ứng dụng dược vật làm mẫu trong “Thương hàn luận”, có thể giúp cho nâng cao ứng dụng dùng dược vật; đồng thời mô thức về tư duy ứng biến này đáng để làm gương cho mạch tư duy và phương pháp để giải thích chế phát bệnh và cơ chế điều trị đối với những bệnh liên quan.

  1. Dược có hiệu quả mạnh[13] riêng:

Các phương thuốc trong “Thương hàn luận” có lịch sử ứng dụng lâu dài, để có thể truyền thừa cho đến đời nay, một trong những nguyên nhân quan trọng là đã khởi xướng ra quy tắc “dược chứng đối ứng”[14]. Chủ yếu là dùng thật chính xác loại dược, mới có thể khiến cho tác dụng của phương thuốc hiện ra rõ rệt. Trong sách các ví dụ loại này khá nhiều, chủ yếu bao gồm: thuốc chuyên để chữa một loại bệnh nào đó, như dùng Quế chi để chữa chứng Bôn đồn, dùng nhân trần để chữa Hoàng đản…; ngoài ra thuốc chuyên dùng để trị một loại chứng nào đó, như Phụ tử dùng để chữa chứng tê do hàn thấp, dùng cát căn để chữa lưng gáy cứng… Nhờ đó có thể thấy, điểm đặc sắc quan trọng nhất về dụng dược trong  “Thương hàn luận”  là giỏi về việc trên cơ sở biện luận bệnh, biện luận chứng, chọn thuốc có tác dụng nhất rồi tiến hành trị liệu tương ứng.

Tổng hợp lại những nội dung trên,  quá trình dụng dược trong “Thương hàn luận”, hiện ra khá nhiều nội hàm lý luận về dụng dược đặc sắc riêng. Phần lớn những quy luật dụng dược đắc sắc này đều do Trọng Cảnh sáng tạo ra, nó không chỉ là kế thừa mà làm phong phú thêm lý luận dụng dược từ Đông Hán về trước, mà còn là mở ra một kỷ nguyên mới về nghiên cứu dụng dược cho sau này.

  1. Bào chế dược vật

Nội dung bào chế dược vật của “Thương hàn luận” bắt gặp rải đều trong phần chú thích về dược vật trong phương, so với nội dung hàm chứa trong “Hoàng đế Nội kinh” và “Thần nông bản thảo kinh” thì phát triển rộng hơn nhiều, nhiều phương pháp bào chế được nhắc đến trong sách như sao, sấy, mài, rửa rượu, sắc rượu đắng, cạo vỏ, bỏ vỏ, bỏ cánh chân… bao gồm cả những phương pháp bào chế hiện đại thường dùng. Khác hẳn so với “Hoàng đế Nội kinh” và “Thần nông bản thảo kinh” , “Thương hàn luận” ngoài nhấn mạnh phương pháp bào chế khác nhau, lại càng phân biệt cụ thể mức độ (lượng) bào chế, như dùng lửa để bào chế phân thành các loại thiêu, luyện, rang[15], trong cách chế rang lại có “rang”, “rang vàng”, “rang cháy” khác nhau. Lại như Ngô thù du bắt buộc “thang rửa 7 lần”,  nguyên tắc đốt chỉ thực “đốt đến đen, không được thái quá”…, đều thể hiện rất rõ sự khác nhau giữa các phương pháp bào chế, lượng dùng lửa lại càng không giống nhau.

“Thương hàn luận” bàn đến các phương pháp bào chế rất đa dạng, mục về bào chế mỗi thứ cũng không giống nhau, hoặc để loại bỏ tạp chất và bộ phận không có tác dụng dược lý, hoặc để tăng thêm tác dụng của vị thuốc, hoặc để thay đổi tính năng của vị thuốc, hoặc để sát trùng, làm giảm độc tính của vị thuốc, hoặc để dễ dàng điều chỉnh và điều chế phương tễ để uống, khoog thể nói một câu mà đủ. Nội dung phong phú này trở thành khởi đầu cho những kiến thức của những nhà bào chế và phát triển khoa học bào chế trung dược sau này. Thế hệ sau tuy rằng đã hiểu thêm một bước rằng thông qua bào chế khác nhau có thể khiến cho tác dụng của dược vật phát sinh sự biến đổi tương ứng, thậm chí biết rằng trong quá trình bào chế có dược vật mới được sinh ra, nhưng đều không thể rời xa gốc rễ cơ bản là “Thương hàn luận”.

  1. Phương pháp bào chế

“Thương hàn luận” có đề cập tới 91 vị thuốc, trong đó có hơn 50 vị phải có thêm bào chế, chiếm hơn nửa tổng số thuốc, từ đó mà có thể thấy Trọng Cảnh cực kỳ chú trọng vào bào chế dược vật. Trong số các phương pháp bào chế, đạt đến hơn 20 loại, bao gồm làm sạch[16], thái cắt[17], thủy chế, hỏa chế, phối hợp cả thủy và hỏa và các phương pháp bào chế khác bên trong nó; ví dụ phương pháp bào chế làm sạch lại bao gồm bỏ vỏ, bỏ lõi, bỏ đốt, bỏ chân cánh, bỏ phần nhọn bên ngoài, bỏ vỏ của tâm…; thái cắt lại có nghiền nát, thái, tách ra, làm vỡ, làm vụn ra, giã,[18] ; hỏa chế lại có rang…. Ngoài ra, các phương pháp bào chế khác cũng được thể hiện ra trong lúc bàn luận. như mật ………………..

Phần lớn dược vật chỉ dựa vào một công nghệ bào chế, cũng có vị thuốc sử dụng nhiều phương pháp bào chế, lại có một số lượng nhỏ dược vật thường sử dụng cùng lúc nhiều công nghệ bào chế, như Hậu phác đã sử dụng phương pháp bào chế chích, bỏ vỏ lại sử dụng cả ngâm nước, chích, sao vàng…Lại như Đại hoàng có rửa rượu, bỏ vỏ cho tới dùng Đại hoàng sống mà không sử dụng phương pháp nào. Không giống như những vị kia, công nghệ bào chế Ba đậu khá khức tạp, đã phải bỏ vở, còn cần phải sao đen mài ra như ….

Ngoài ra Trọng Cảnh trong quá trình bào chế, còn đặc biệt chú ý phân biệt mức độ khác nhau của các công nghệ bào chế, như là sao phân thành sao vàng (như Qua đế), sao đen (như Ba đậu). Rửa phân thành rửa nước (như Bán hạ, Ngô thù du), rửa rượu (như Đại hoàng). Cùng là phương pháp rửa nhưng mục đích lại càng khác nhau, như rửa nước để giảm mặn (Hải tảo), rửa nước để khử tanh (Thục tất[19]). Ngâm (tẩm) có ngâm nước ( như Chỉ thực, Hậu phác), ngâm rượu nếp[20] (Ô mai)…

Ngoài nhấn mạnh phương pháp bào chế, trong quá  trình bào chế của “Thương hàn luận” còn sử dụng tới nhiều phụ liệu, như rượu, rượu nếp, bạch mật[21]… Thông qua sự kết hợp tuyệt vời giữa phương pháp bào chế có liên quan và các phụ liệu khác nhau, khiến cho tính thiên lệch tương quan của dược vật có thể căn cứ vào yêu cầu trị liệu bệnh chứng để đạt được tác dụng kỳ diệu, khiến cho dược vật thăng giáng có thứ tự, bổ hư tả thực, thay đổi và làm giảm độc tính, làm co tác dụng điều trị của dược vật càng tốt hơn.

Do đó, thông qua tiến hành chỉnh lý hệ thống nội dung bào chế dược vật trong “Thương hàn luận”, không chỉ có thể đoán hiểu được mức độ phát triển bào chế ở khu vực và thời đại Trọng Cảnh sống, lại càng có thẻ thông qua phân tích nội dung tương quan của kết hợp giữa bào chế và trị liệu bệnh chứng tương ứng, để thiết lập và cung cấp lối suy nghĩ cũng như phương pháp cho sự kết hợp mật thiết của thực tiễn lâm sàng và lý luận bào chế lâm sàng.

  1. Hiệu ứng của bào chế

“Thương hàn luận” có nội dung về bào chế dược vật phong phú, tác dụng của bào chế chủ yếu ở các phương diện sau:

  • Làm sạch dược vật:

Thông qua bào chế có thể làm sạch dược vật, bỏ đi được tạp chất lẫn trong thuốc, nhặt bỏ được những bộ phận không có tác dụng trị liệu, như Manh trùng bỏ chân, cánh; hoặc càng giữ lại tốt hơn những bộ phận có tác dụng tốt của thuốc, như Ma hoàng bỏ đi phần “đốt” không tốt cho tác dụng phát hãn mà giữ lại phần thân; ví dụ khác như Hậu phác bỏ vỏ thô, lấy ruột mềm bên trong là bộ phận có tác dụng dược lý; Trư linh bỏ bì, giữ lại phần nấm nằm ở nhân; Hạnh nhân bỏ bì và hai nhân … đều là quá trình bào chế tiến hành làm sạch dược vật.

  • Tiện lợi để uống:

Thông qua bào chế, có thể trừ khử được mùi lạ nồng nặc hoặc vị đắng chat, giảm thiểu những thứ không thích hợp với đường uống, càng tiện lợi để dùng theo đường uống. Như Hải tảo rửa nước để giảm mặn, Thục tất rửa để giảm tanh, Ngô thù du rửa nước.

  • Sắc thuốc thuận tiện

Thông qua bào chế có thể làm cho các thành phần cấu thành dược vật nhanh chóng bị hòa tan, nâng cao khả năng tận dụng thuốc, tăng cao hiệu quả điều trị. Nếu như thông qua đập vỡ, nghiền nhỏ dược vật có thể thay đổi

  • Thay đổi tính dược
  • Làm giảm độc tính

[1]辩病用药:  biện luận, phân biệt theo bệnh để dùng dược, có ý nghĩa là dùng thuốc theo triệu chứng chứ không phải biện chứng.

[2] 辩证用药: có hai chữ chứng khác nhau: “证” (chứng: có nghĩa là chứng minh, chứng tỏ) và “ 症” ( chứng trong bệnh chứng). Trong trường hợp này, là sử dụng chữ “证”, biện chứng này cũng chính là hay dùng trong cụm từ “Biện chứng luận trị”

[3]以此来更好的适应病症治疗:

[4] 辩症用药: Trong mục này từ chứng đa phần là “chứng 症” chỉ chứng bệnh, triệu chứng

[5] 症: triệu chứng

[6] 头痛医头,脚痛医脚:

[7]瓜蒂: Qua đế: là cuống khô của quả dưa (Cucumis melo L.), mùa hạ lúc dưa chín thì hái lấy cuống đế của dưa, phơi âm can, dùng sống hoặc sao. Dược tính: khổ, hàn, có độcm quy vị kinh. Công năng: dũng thổ đàm thực, khứ thấp thoái hoàng. Ứng dụng điều trị: phong đàm, thực tích đình trệ, trúng độc thức ăn, thấp nhiệt hoàng đản. Liều dùng: thuốc sắc 2,5-5g, thuốc hoàng 1.3-1g/lần uống. Chú ý đối với các trường hợp có thai, thể trạng suy, thổ huyết, vị hư hoặc không có thực chứng. ( 钟贛生;中药学;北京: 中国中医药出版社,2013, 第2版: 438)

[8] 豆豉:(Hán việt: Đậu thị) nhưng nếu dịch sang Tiếng Việt chính là Đậu xị do khi phiên âm sang có sự sai lệch về cách phát âm.

[9] Nguyên văn âm Hán Việt là “Dũng thổ”: chỉ nôn ào ạt, nôn nhiều, mạnh

[11] 赤石脂:Xích thạch chi: Thành phần chủ yếu là Al4(Si4O10(OH)8.4H2O), chủ yếu ở vùng Sơn Đông, Hà Nam, Giang Tô, Thiểm Tây, dùng sống hoặc thêm dấm chua để dùng. Dược vị: cam, toan, sáp, ôn; quy kinh Đại trường, Vị. Công năng: sáp trường chỉ tả, thâu liễm chỉ huyết, sinh cơ lành vết loét. ( 钟贛生;中药学;北京: 中国中医药出版社,2013, 第2版: 427)

[12] 药同而治异

[13] 药专效宏:

[14] 药证对应:  Dược chứng đối ứng

[15] 3 phương pháp này là “烧、炼、熬” , âm Hán – Việt: thiêu, luyện, ngao. Ngao: rang khô. Ở đây 3 từ này chỉ 3 mức độ của dùng lửa bào chế thuốc, thiêu là dùng lửa mạnh nhất, sau đó đến luyện và rang.

[16] 净制: Tịnh chế

[17] 切制:chỉ các phương pháp bào chế khiến cho vị thuốc bị chia cắt, thái…

[18] 咬咀、切、擘、破、碎、捣、杵:

[19] 蜀漆(Thục tất): Chính là vị Thường sơn.

[20] Trong sách “Thương hàn luận” nói về bào chế thường phân biệt rõ dùng 酒và  苦酒, theo tra cứu thì苦酒 là 米酒 chính là rượu nếp thường dùng ở phương Nam Trung Quốc nhưng nồng độ không quá cao.

[21] Bạch mật:

Tài liệu: [1] 郝万山、李赛美; 伤寒论理论与实现; 北京, 人民卫生出版社,2009, 第一版: 217 – 228.

Dịch: Trần Anh

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s