LÝ LUẬN TIÊU BẢN

LÝ LUẬN TIÊU BẢN

  1. Nội dung của tiêu bản

Lý luận tiêu bản được biết sớm nhất bắt đầu từ “Linh khu – Vệ khí biện”. “Tiêu” “Thuyết văn” giải thích là “mộc diểu mạt dã”[1], “Đoạn chú” giải thích là “diểu, tiểu dã, mộc tế chi chi vị diểu[2]”. Những kiểu giải thích ở trên đại bộ phận đều chỉ bộ phận ngọn nhỏ mảnh của cây, thường là chỉ ngọn cây. “Tố vấn – Lục vi chỉ đại luận” chú: “tiêu giả bệnh chi thủy[3]”, “bản” “Thuyết văn” viết: “mộc hạ viết bản[4]”, “Lễ ký – lạc ký” nói: “do sơ dã[5]”, có ý nghĩa của cơ (bản), nguyên, sơ cũng có hàm ý chỉ gốc cây của thực vật, thường là để chỉ căn bản. “Tiêu” là chỉ ngọn cây, ở phía trên, tương ứng với các vị trí đầu, mặt, ngực, lưng của cơ thể. “Bản”  chỉ rễ cây, ở phía dưới, tương ứng với các đoạn dưới của tứ chi trên cơ thể. Nội dung của “tiêu bản” bao gồm:

Thủ Thái dương Tiểu trường kinh: bản ở phía sau mắt cá chân, nơi có huyệt Dưỡng Lão; tiêu ở phía trên Mệnh Môn (mắt) 1 thốn, gần huyệt Toản Trúc, Ngư Yêu.

Thủ Thiếu dương Tam tiêu kinh: bản tại ở giữa ngón út và ngón vô danh lên 2 thốn, gần huyệt Trung Chữ, Dịch Môn; tiêu tại góc sau tai và góc ngoài mắt,  gần huyệt Ế Phong, Giác Tôn, Ty Trúc Không.

Thủ Dương minh Đại trường kinh: bản tại phía trong xương khuỷu tay lên đến Biệt Dương, gần các huyệt Khúc Trì, Trửu Liêu, Ngũ Lý, Tý Nhu; tiêu tại má và dưới hàm, gần huyệt Nghinh Hương.

Thủ Thái âm Phế kinh: bản tại phía trong thốn khẩu, tức huyệt Kinh Cừ, Thái Uyên; tiêu tại phía trong nách nơi có động mạch, gần các huyệt Cực Tuyền, Trung Phủ.

Thủ Thiếu âm tâm kinh: bản ở phía sau xương bàn tay chỗ đầu xương nhọn, là vị trí huyệt Thần Môn; tiêu ở bối du, chỗ huyệt Tâm Du.

Thủ Quyết âm Tâm bào kinh: bản tại phía sau, giữa 2 gân bàn tay lên 2 thốn, là vị trí huyệt Nội Quan; tiêu ở dưới nách 3 thốn, là vị trí huyệt Thiên Phủ.

Túc Thái dương Bàng quang kinh: bản ở tại gót chân lên 5 thốn, giữa 5 thốn là huyệt Côn Lôn, Phụ Dương; Tiêu tại Mệnh Môn (mắt), vị trí huyệt Tình Minh.

Túc Thiếu dương Đởm kinh: bản tại giữa khiếu âm, nơi huyệt Túc Khiếu Âm, Giải Khê; tiêu tại tai, nơi huyệt Thính Hội, Nhĩ Môn, Thính Cung.

Túc Dương minh Vị kinh: bản ở gần huyệt Lệ Đoài; tiêu tại má, yết hầu, nơi huyệt Giáp Xa, Nhân Nghinh.

Túc Thái âm Tỳ kinh: bản tại phía trước huyệt Trung Phong của Can kinh lên 4 thốn, nơi huyệt Tam Âm Giao; tiêu có 2 nơi, một là ở sau lưng chỗ huyệt Tỳ Du, một ở lưỡi chỗ huyệt Liêm Tuyền.

Túc Quyết âm Can kinh: bản tại Hành Gian lên 5 thốn, nơi huyệt Trung Phong, Tam Âm Giao; tiêu ở lưng chỗ huyệt Can Du.

Túc Thiếu âm Thận kinh: bản tại mắt cá trong lên xuống 3 thốn, nơi huyệt Giải Khế, Đại Chung, Thủy Tuyền, Chiếu Hải, Phục Lưu, Giao Tín; tiêu của Thận kinh cũng có 2 nơi: 1 tại phía sau lưng chỗ huyệt Thận du, một ở huyệt Liêm Tuyền ở lưỡi.

  1. Ứng dụng của lý luận tiêu bản:

Liên quan đến ứng dụng trong chẩn đoán của lý luận Tiêu bản, “Nội kinh” với vấn đề này đã có phần luận đến. “Linh khu – Vệ khí” nói: “Phàm hậu thử giả, hạ hư tắc quyết, hạ thịnh tắc nhiệt, thượng hư tắc nhiệt thống[6]”. Đồng thời cũng chỉ ra nguyên tắc trị liệu là “thạch giả, tuyệt nhi chỉ chi, hư giả, dẫn nhi khởi chi [7]”. “Thạch 石 ” ở đây giống “thực 实 ”. Ý nghĩa của câu này là khi nói bản của kinh mạch ở tại tứ chi, nếu kinh khí hư mà mắc bệnh sẽ xuất hiện chứng quyết nghịch hàn lãnh; nếu kinh khí thịnh tà khí thực sẽ xuất hiện nhiệt chứng; tiêu của kinh mạch tại đầu mặt, nếu kinh khí hư sẽ xuất hiện triệu chứng đầu huyễn vựng, mắt hoa; nếu kinh khí thịnh tà khí thực sẽ xuất hiện triệu chứng đau do nhiệt… Cho nên khi điều trị nên tìm hiểu kỹ hư thực của tiêu bản, nếu là thực thì tuyệt đối do tà khí thịnh gây ra, sử dụng tả pháp, ức chế không để tà khí phát triển; nếu là hư thì dẫn dắt cho mạnh lên, dùng bổ pháp khiến cho chính khí thịnh vượng. “Tố vấn – Tiêu bản bệnh truyền luận biện” nói: “tri tiêu bản giả, vạn cử vạn đương, bất tri tiêu bản, thị vị vọng hành[8]”. Câu này nhấn mạnh tầm quan trọng của tiểu bản trong biện chứng và điều trị.

Ghi chép về ứng dụng của lý luận tiêu bản trong trị liệu cũng bắt đầu từ “Nội kinh”, “Linh khu – vệ khí” nói: “năng tri lục kinh tiêu bản giả, khã dĩ vô hoặc vu thiên hạ[9]”. “Tiêu u phú” nói: “canh cùng tứ căn tam kết, ỷ tiêu bản nhi thích vô bất thuyên[10]”. Từ đó có thể thấy hiệu quả quan trọng của lý luận tiêu bản trong điều trị.

  • Bệnh ở trên lấy huyệt ở dưới, bệnh ở dưới chọn ở trên, bệnh ở tiêu chọn ở bản, bệnh ở bản châm ở tiêu:

Linh khu – chung thủy” có viết: “bệnh tại thượng giả, hạ thủ chi, bệnh tại hạ giả, cao thủ chi, bệnh tại đầu giả thủ chi túc, bệnh tại túc giả thủ chi quắc.[11]” Câu này nói cho chúng ta biết trên lâm sàng khi chọn huyệt châm cứu, bệnh phía trên có thể chọn ở dưới, cũng là nói các huyệt vị ở đoạn dưới của tứ chi có thể chữa các bệnh ở đoạn trên như đầu, ngực, bụng, lưng, “Châm cứu tụ anh – trửu hậu ca” viết: “đầu diện chi bệnh tầm Chí Âm…  tề phúc hữu bệnh khúc tuyền châm[12]”. Với nguyên tắc tương tự, bệnh ở dưới có thể chọn huyệt ở trên, cho nên châm thích ở phía trên như đầu mặt, ngực bụng, vùng lưng… có thể trị liệu các bệnh ở tứ chi. Các loại ví dụ về bệnh như này trong các sách “Tiêu u phú”, “Bị cấp cứu pháp, “Châm cứu tư sinh kinh” … đều có ghi lại. Chúng ta vốn đã quen thuộc “tứ tổng huyệt ca” là “Đỗ phúc tam lý lưu, yêu bối ủy trung cầu, đầu cảnh tầm liệt khuyết, diện khẩu hợp cốc thu[13]”, cũng là vận dụng lý luận tiêu bản.

  • Ứng dụng phối huyệt theo tiêu bản, căn kết:

Tứ chi ở dưới lấy căn làm bản, đầu thân ở trên lấy kết làm tiêu, một nơi kinh khí bị xuất ra, một nơi kinh khí nạp vào. Lý luận Châm cứu nhấn mạnh ý nghĩa của căn và kết, là có ý nhấn mạnh “nguyên 源[14]” và “lưu 流[15]” của kinh khí. Căn bản là nguyên, tiêu kết là lưu, cho nên châm thích các huyệt tứ chi nhất là các huyệt ở dưới khuỷu, gối không chỉ có thể chữa các bệnh cục bộ mà còn có thể chữa trị các bệnh ở đoạn xa, nội tạng và các bệnh liên quan đến đầu thân, châm thích các huyệt đầu thân có thể chữa nhiều bệnh cục bộ.

  • Ứng dụng của tân huyệt

Nhờ những gợi ý của lý luận căn kết tiêu bản, lý luận này đã chỉ đạo thực hành lâm sàng có nhiều bước phát triển mới, như chúng ta phía trước chúng ta đã giới thiệu qua về Toàn tức luận[16]. Như túc châm, nhĩ châm… không chỉ có thể chữa các bệnh chứng toàn thân, đồng thời còn có thể chữa các bệnh của tạng phủ. Gần đây phát hiện thêm một số huyệt của tứ chi, cũng có thể dùng lý luận tiêu bản để giải thích, ví dụ châm thích huyệt Tình Minh trị bệnh đau lưng cấp tính, châm thích huyệt Tứ Bạch điều trị đau thần kinh tọa, châm thích điểm Can Hỏa điều trị bệnh tạng Can, châm tích huyệt Đởm Nang trị bệnh viêm túi mật, châm thích huyệt Ruột thừa ở dưới khớp gối trị viêm ruột thừa, châm thích huyệt Chí Âm chỉnh nắn lại các trường hợp thai không đúng ngôi… Châm thích gây tê cũng dựa theo lý luận tiêu bản để làm căn cứ để xác định huyệt cho phương pháp.

[1] 木杪末也: ngọn nhỏ của cây

[2] 杪,小也,木细枝之谓杪 diểu, cũng là nhỏ, cành nhỏ mảnh của cây gọi là diểu.

[3] 标者病之始 : tiêu là bệnh mới có

[4] 木下曰本 phía dưới của cây gọi là bản.

[5] 犹初也

[6] 凡候此者,下虚则逆,下盛则热,上虚则热痛

[7] 石者,绝而止之;虚者,引而起之

[8] 知标本者,万举万当,不知标本,是谓妄行: người mà hiểu tiêu bản, mọi sự làm đều thích đáng, không hiểu tiêu bản được gọi là làm tùy tiện.

[9] 能知六经标本者,可以无惑于天下: người mà hiểu tiêu bản của lục kinh có thể không bị mê hoặc bởi thiên hạ (có lẽ ý câu này là hiểu được tiêu bản lục kinh thì sẽ không bị lẫn lộn, đi sai đường khi điều trị)

[10] 更穷四根三结,依标本而制无不痊 : càng nghiên cứu tứ căn tam kết, dựa vào tiêu bản mà châm không bệnh gì không thuyên giảm

[11] 病在上者,下取之,病在下者,高取之,病在头者取之足: bệnh ở trên chọn huyệt ở dưới, bệnh ở dưới chọn huyệt ở cao, bệnh tại đầu chọn huyệt ở chân

[12] 头面之病寻至阳…脐腹有病曲泉针 : bệnh ở đầu mặt tìm huyệt Chí Âm, bệnh ở bụng rốn châm huyệt Khúc Tuyền

[13] 肚腹三里留,要背委中求,头颈寻列缺,面口合谷收 : ý câu này là nếu bệnh ở bụng thì dùng huyệt Túc Tam Lý, bệnh vùng lưng dùng Ủy Trung, đầu cổ dùng liệt khuyết, mặt miệng dùng hợp cốc.

[14] “Nguyên” trong trường hợp này là chữ nguyên trong căn nguyên, với nghĩa chỉ gốc rễ, nguồn gốc.

[15] Lưu流 có rất nhiều nghĩa, khi đứng làm danh từ và động từ sẽ có cách dịch khác nhau, tuy nhiên nghĩa thường được biết đến nhiều nhất là chỉ sự lưu chuyển, di động, lưu hành hoặc để chỉ dòng nước, dòng sông, hoặc chỉ lưu truyền… Nhưng đều mang tính chất di chuyển không ngừng.

[16] 全息论

Nguồn: Châu Miễn Bình, Vương Phú Xuân. Kinh lạc, tạng phủ: tương quan Lý luận và Lâm sàng. NXB Văn kiện khoa học kỹ thuật, Bắc Kinh 2010, 59-60.
Dịch: Trần Minh Anh

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s