KINH NGHIỆM SỬ DỤNG THẠCH CAO CỦA TRƯƠNG TÍCH THUẦN

KINH NGHIỆM SỬ DỤNG THẠCH CAO CỦA TRƯƠNG TÍCH THUẦN[1]

Đao Vân Dũng

Danh y cận đại Trương Tích Thuần hay dùng Thạch Cao vì “là thánh dược thanh dương minh vị phủ thực nhiệt, bất kể nội thương, ngoại cảm dùng đều hiệu quả”. Thạch Cao có tác dụng thấu biểu giải cơ, thanh nhiệt tả hỏa, trừ phiền chỉ khát, là thuốc hàng đầu chữa chứng của Dương minh. Kế thừa Trương Trọng Cảnh, Trương Thị sử dụng Thạch Cao càng linh hoạt khéo léo hơn nữa, ông cho rằng “có thể cứu ngay được mạng sống trong tức khắc, là thuốc phổ độ chúng sinh[2]”. Số phương tự sáng tạo dùng Thạch Cao là hơn 20, trong phương lượng Thạch Cao dùng nhiều là 2-3 lạng, lượng Thạch Cao dùng trong Bạch hổ thang lại càng linh hoạt. Trương Thị dùng Thạch Cao khéo léo, lí luận thấu đáo, các y gia đời trước không ai bằng.

  1. Phàm Dương minh nhiệt chứng, ngoại cảm, nội thương đều có thể dùng

Trương Thị cho rằng Thạch Cao “mát mà có thể tán, có tác dụng thấu biểu giải cơ. Người ngoại cảm mà không có nhiệt chứng, mạnh dạn dùng có giá trị hơn cả kim đan”. “Tính mát của Thạch cao tuy không bằng băng, nhưng tác dụng thoái nhiệt, thực tế còn hơn băng nhiều”[3]. Các phương pháp điều trị có hiệu quả rõ ràng như dùng để trị ngoại cảm phong hàn nhập lý hóa nhiệt; ôn bệnh phát nhiệt gây hôn mê; gia Huyền Sâm, Mạch Đông, Bạc Hà, Thuyền Thoái thanh nhiệt trong các bệnh ban chẩn truyền nhiễm; gia Ngân Hoa, Liên Kiều… trị sưng đau họng, gia Linh Dương Giác, Trọng Lâu[4], Tri Mẫu, Thuyền Thoái… thanh nhiệt ở đầu mặt; gia Ma Hoàng, Hạnh Nhân, Liên Kiều trị ngoại cảm phát nhiệt đàm suyễn; ngược tật tuy là bệnh ở Thiếu dương, nhưng nếu kèm theo thực nhiệt ở Dương Minh, dùng đại tễ Bạch hổ thang gia Sài Hồ để điều trị…. Thạch Cao dùng liều lượng lớn, ít thì 30g, liều cao có thể tới 500g, Thạch Cao giải cơ, làm cho người thực nhiệt có thể ra mồ hôi, không dùng được ở người mới bị phong hàn. Thạch Cao khi thanh nhiệt Dương Minh có thể làm tỉnh hôn mê. Dùng Bạch hổ gia Nhân Sâm thang, trị thương hàn mạch Kết Đại; dùng Huyền Sâm thay Tri Mẫu có thể chữa sản hậu ôn bệnh phát sốt, trong tâm táo nhiệt, điều trị phụ nữ vì ngoại cảm khiến nhiệt thúc bên trong dẫn đến huyết ra không ngừng; trị chứng lị mà sốt liên tục, uống các thuốc thanh hỏa nhưng nhiệt vẫn không giảm. Gia thuốc thanh nhiệt điều trị chảy nước mũi; chữa đau bụng thực nhiệt; chữa ngoại cảm thực nhiệt kèm theo đau khớp xương; phong nhiệt dẫn tới bệnh mắt… trong các phương thuốc này đều có Thạch Cao. Ở trên đều là các ví dụ bệnh có kèm ngoại cảm. Trong các bệnh nội thương dùng Thạch Cao thanh đàm hỏa, trị chứng không mang thai, thanh nhiệt dương minh chữa các chứng nhọt; thanh nhiệt trường vị chữa trĩ; thanh nhiệt ở huyết thất trị lở loét tử cung[5]… Trương Thị cho rằng: “Thạch Cao là thuốc hàn nhẹ”, “Thạch Cao vốn không phải quá lạnh… vì Thạch Cao sống có thể khiến cho nhiệt của hàn ôn có đường ra… Thạch Cao sống có tính năng phát hãn, nhiệt có thể nhờ mồ hôi mà tiết giải, nếu cho uống xong mà không ra mồ hôi, cũng có thể khai thông được nhiệt uẩn bên trong, theo các lỗ bì mao tấu lý nhẹ nhàng thoát ra, tự người bệnh không cảm giác được”. Thạch Cao bao gồm cả tính hàn có thể thanh nhiệt lại có tác dụng tân tán giải cơ, khả năng thanh nhiệt thắng cả băng, mà lại có thể sử dụng điều trị với nhiều loại bệnh tật.

  1. Tác dụng mạnh nhất của Thạch Cao khi phối ngũ với các dược vật khác

Trương Thị dùng Thạch Cao phối ngũ với Nhân Sâm là nhiều nhất. Ông cho rằng người đã ngoài ngũ tuần, hoặc người mà thời tráng niên lao tâm lao lực quá mức, hoặc bên trong có nội thương, hoặc người bẩm tố suy nhược, sau khi phát hãn, nôn, xổ và khát, dương minh nhiệt thịnh, mà người vốn đã có nội thương, nguyên khí vốn nhược, mạch hư, lúc dùng Bạch Hổ thang nên gia Nhân Sâm. Thạch Cao được Nhân Sâm hỗ trợ, có thể khiến cho nhiệt tà vùi lấp trong sâu từ từ thăng lên mà tán ra ngoài, tiêu giải mà không tồn dư. Ví dụ, điều trị sản hậu phát nhiệt, chắc chắn do thể trạng hư lại bị nhiệt, nên dùng Nhân Sâm củng cố chính khí, Bạch Hổ thanh nhiệt, mới có thể không bị tổn thất. Cho nên các chứng chân dương khuy tổn hoặc nguyên khí bất túc, thường dùng Bạch Hổ gia Nhân Sâm thang để trị. Ông tổng kết: “Người mà do chân dương khuy tổn, vì khí hư nên không ngừng trào nhiệt, vì khí hư mà hạ hãm, đều có thể điều trị dựa vào Bạch Hổ thang gia Nhân Sâm, trong phương lại dùng Sơn Dược thay cho Ngạnh Mễ, không thể không có hiệu quả. Bởi tính của Nhân Sâm, có thể đại bổ khí, nguyên khí vượng mà thượng thăng, tự nhiên hạ hãm sẽ hết, mà dùng cùng Thạch Cao lại có thể trị chân âm khuy tổn trong ngoại cảm.

Phối ngũ với Aspirin. Ông cho rằng: “Thạch Cao thanh nhiệt tuy lực mạnh nhưng khả năng phát biểu thuộc loại nhẹ. Aspirin có thể phát hãn, tán phong, trừ nhiệt, thấu đạt ra đến biểu, giải được nhiệt uất bên trong mà tán qua biểu, là thuốc tốt để chữa ngoại cảm phát sốt cùng với khớp sưng nóng đỏ đau.”

Phối ngũ với Tri Mẫu, Huyền Sâm. Trương Thị vì Tri Mẫu vào Vị thanh nhiệt ngoại cảm và táo của Phế kim. Dùng Thạch Cao thanh nhiệt, lấy Tri Mẫu vì tính lương nhuận tư âm, khiến cho Thạch Cao có thể thoái nhiệt, phòng Dương Minh nhiệt lâu ngày làm hao chân âm. Huyền Sâm nhập Phế để thanh táo nhiệt ở Phế, giải biểu tiêu hỏa, tính mát mà không lạnh, lại có thể tư âm, kiêm có tính bổ. Nhân Sâm Bạch hổ thang dùng Huyền Sâm thay cho Tri Mẫu điều trị sản hậu phát sốt, sản hậu huyết hư sinh nhiệt cho đến các chứng sản  hậu hàn ôn, nhiệt nhập Dương Minh, Trương Thị cho rằng pháp ấy là thích hợp nhất.

Phối ngũ với Đại Giả Thạch. Trương Thị cho rằng Đại Giả Thạch có thể trấn khí nghịch, giảm đàm dãi, chỉ ẩu thổ, thông táo kết. Dùng sống để uống không làm tổn thương trường vị, có thể dưỡng huyết rất tốt. Thạch Cao phối cùng Đại Giả Thạch khiến cho nhiệt tà hạ xuống, lui được nhiệt ở phủ.

Trị ngoại cảm thực nhiệt kèm theo nôn mửa, hoặc ôn bệnh biểu lý cùng nhiệt, đầy tức ngực đau bụng, uống nước thì nôn…. dùng hợp lý có thể thấy tác dụng kỳ diệu.

Phối ngũ cùng với Liên Kiều, Bạc Hà, Thuyền Y, dẫn nhiệt từ Dương Minh thoát qua đường biểu, có thể tăng cường thêm tác dụng thanh thấu nhiệt tà.

  1. Dùng một mình Thạch Cao lượng lớn cũng có hiệu quả rõ

Trương Thị dùng thạch cao lượng lớn, ông nói: “Chất của Thạch Cao rất nặng, 7,8 tiền không quá một nhúm to mà thôi, thường đem một nhúm to thuốc vi hàn để dập tắt nhiệt như ngọn đuốc do hàn thấp sinh ra, liệu có thể có tác dụng.” Cho nên ông dùng Thạch Cao ít thì 1 lạng, nhiều thì 7,8 lạng, có thể sắc thang uống, cũng có thể tán bột uống, kể cả dùng một mình Thạch Cao điều trị cũng thấy rõ tác dụng , thực là bậc thánh của dùng Thạch Cao. Trương Thị nói: “Làm lâm sàng hơn 40 năm, trọng dụng Thạch Cao để chữa khỏi các chứng bệnh tính ra đã hàng nghìn cân. Có lần chữa một chứng dùng vài nghìn cân, lại có một chứng dùng hơn 10 cân.” Ví dụ trong một bệnh án, chữa cho một phụ nữ ngoài 60, ngửi thấy mùi thuốc liền nôn, dùng một mình sinh Thạch Cao 6 lạng, sắc lấy nước trong uống lúc nóng, uống hết thuốc thì đỡ. Tại nhà điều trị một người cứ uống nước thì nôn, chỉ có thể nuốt băng, dùng Lê cắt miếng chấm bột sinh Thạch Cao mịn ăn, dùng được 2 lạng thì đỡ.

  1. Thạch cao để uống trong chỉ có thể dùng sống

Trương Thị cho rằng, Thạch Cao sau khi nung tính sẽ biến từ tuyên tán thành thu liễm. “Điều trị người ngoại cảm có thực nhiệt, lại đem đàm hỏa đó thu lại, ngưng kết lại mà không tán, dùng tới 1 lạng thì sẽ làm tổn thương người bệnh, là biến kim đơn thành độc của chim cưu[6]”. Sinh Thạch Cao có thể dùng lượng lớn cũng không dẫn đến vị hàn, dùng Thạch Cao luyện lập tức đông cứng kết tủa, cho nên Trương Thị dùng để uống trong đều là sinh Thạch Cao, Thạch Cao luyện chỉ dùng để chỉ huyết, bôi vết thương chẩy máu. Sự khéo léo trong sử dụng Thạch Cao trên lâm sàng của danh y Trương Tích Thuần đúng là tấm gương để học.

 

[1] 张锡纯/zhāng xí chún/: Trương Tích Thuần (có thể có âm đọc Hán Việt khác do sự sai lệch về phiên âm Hán sang Việt).Trương Tích Thuần (1860 – 1933) là một trong những người tiêu biểu cho điều trị phối hợp giữa Đông Tây y ở Trung Quốc giai đoạn cận đại, ông có những quan điểm điều trị và cách dùng thuốc khá hiệu quả và nhiều nét đặc sắc riêng.

[2] Phổ tế chúng sinh (普济群生) tương đương với cụm “phổ độ chúng sinh”, là một cụm từ có xuất phát từ Phật giáo, có nghĩa là cứu giúp mọi người khỏi đau khổ.

[3] 凉而能散,有透表解肌之力。外感不有实热者,放胆用之直胜金丹。善石膏之凉,虽不如冰,而其退热之力,实胜冰元甚

[4] 重楼 /Trọng(Trùng) Lâu: phần thân rễ khô của  Paris polyphylla Smith var.yunnanensis (Franch.) Hand. – Mazz  hoặc cây 7 lá 1 hoa Paris polyphylla Smith var. Chinesis (Franch.) Hara. Còn có tên khác là Tảo thể, 7 lá 1 hoa, Thảo Hà Xa. Sinh trưởng ở vùng Vân Nam, Quảng Tây (Trung Quốc). Vị đắng, tính hàn nhẹ, có ít độc, quy kinh Can. Chủ trị: thanh nhiệt giải độc, tiêu thũng chỉ thống, lương can định kinh (làm mát gan, ổn định tinh thần không để kinh hoảng).

[5] Ý là viêm phần phụ khá nặng

[6] 鸠毒(jiū dú) cũng có thể bài viết đánh sai nên dùng là (zhèn dú). 鸠毒 ẩn dụ là dùng một phương pháp không đúng để giải quyết vấn đề khó khăn trước mắt gây ra hậu quả nghiêm trọng. trong truyền thuyết là một loài chim mà lông của nó chứa chất độc, khuẩy vào rượu uống chết ngay.

Tài liệu gốc: 刀云勇.张锡纯应用石膏的经验[J].中国社区医师(医学专业),2012,32:187
Người dịch: Trần Minh Anh

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s